Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Khái niệm tội phạm là khái niệm trung tâm, các khái niệm, phạm trù, chế định khác đều xuất phát, xoay quanh khái niệm này.
Việc xác định tội phạm trong luật hình sự là cơ sở để quy định hình phạt nhưng việc quy định hình phạt xét cho cùng cũng là một phần của việc xác định tội phạm. Khái niệm tội phạm là cơ sở để xây dựng các cấu thành tội phạm cụ thể với ý nghĩa là mô hình pháp lý của từng loại tội phạm và qua đó cũng là cơ sở để quy định hình phạt tương ứng [26, tr. Trong pháp luật hình sự thực định, từ BLHS năm 1985 đến BLHS năm 2015 thì nhà làm luật vẫn chưa đưa ra được khái niệm pháp lý về tội trộm cắp tài sản. Tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015, tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173, chương XVI các tội xâm phạm sở hữu, với khách thể trực tiếp của tội phạm là quyền sở hữu (quản lý, sử dụng, định đoạt) tài sản của cá nhân, tổ chức.
Là tội phạm có bản chất là tội chiếm đoạt, đó là “hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình” [24, tr. Bên cạnh đó, trong khoa học luật hình sự, liên quan đến khái niệm tội trộm cắp tài sản cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm tội trộm cắp tài sản, tiêu biểu như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm như sau: “trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách lén lút” [25; tr. Trần Văn Biên - TS. Đinh Thế Hưng có định nghĩa: Tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn lén lút, lợi 6 luan an dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản [4, tr.
Tác giả Nguyễn Ngọc Điệp lại cho rằng: Trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút, bí mật chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình [11, tr. Có thể thấy, đa phần các tác giả đều thống nhất đặc trưng của tội trộm cắp tài sản là lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, tức là người có hành vi trộm cắp tài sản đã cố ý chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ người có tài sản sang cho mình hoặc người khác mà mình quan tâm với thủ đoạn là lén lút, không để lộ cho người khác biết để nhằm mục đích chiếm đoạt trái phép tài sản của họ. Như vậy, trên cơ sở khái niệm pháp lý về tội phạm trong BLHS năm 2015 và tiếp thu các khái niệm nêu trên trong khoa học luật hình sự, tác giả đưa ra khái niệm tội trộm cắp tài sản như sau: Tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý bằng thủ đoạn lén lút, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản Trong pháp luật hình sự hiện hành thì tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và có hiệu lực toàn bộ từ ngày 01/01/2018.
Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản được thể hiện qua các yếu tố CTTP là khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm như sau: *Khách thể của tội trộm cắp tài sản Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [26, tr. 7 luan an Đối với tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015, thuộc chương các tội phạm xâm phạm sở hữu. Khách thể trực tiếp của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu tài sản. Quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật [19, Điều 158].
Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, người phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến đối tượng là tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản. Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản có thể là tài sản hợp pháp tức là những loại tài sản được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu theo các căn cứ: do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp; được chuyển quyền sở hữu; thu hoa lợi, lợi tức; được thừa kế tài sản; chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên…; chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu do Bộ luật dân sự quy định …[19] hoặc có thể là tài sản bất hợp pháp như do phạm tội, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự mà có; đồng thời, tài sản này vẫn chưa thoát ly khỏi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp theo quy định của pháp luật, hoặc tài sản đó chưa được chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản chuyển giao cho người thực hiện hành vi chiếm đoạt. Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” [19]. - Vật chỉ có thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản khi nó là một bộ phận của thế giới vật chất, là sản phẩm lao động của con người, con người chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai; đồng thời, chưa bị chủ tài sản hủy bỏ, từ bỏ quyền sở hữu.
- Tiền: Tiền là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận. Do vậy, tiền giả 8 luan an không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản. Trường hợp, tiền cũ (tiền đồng qua các thời kỳ lịch sử trước đây) có giá trị văn hóa lịch sử khi bị trộm cắp thì không được coi là tiền theo nghĩa này mà cần được xác định là vật. - Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự.
Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ. Giấy tờ có giá chia làm 02 loại là giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá hữu danh. Trong đó “Giấy tờ có giá ghi danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu.” [22, khoản 2, Điều 2] và “Giấy tờ có giá vô danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu. Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá” [22, khoản 2, Điều 3].
Đối với giấy tờ có giá ghi danh phải ghi rõ tên tổ chức, số giấy phép thành lập hoặc giấy phép đăng ký kinh doanh, địa chỉ của tổ chức mua giấy tờ có giá (nếu người mua là tổ chức); tên, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, địa chỉ của người mua giấy tờ có giá (nếu người mua là cá nhân). Với quy định trên thì chỉ giấy tờ có giá vô danh mới có thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản bởi vì khi chiếm đoạt được các loại giấy tờ có giá vô danh thì quyền sở hữu của chủ sở hữu mới bị ảnh hưởng và có khả năng xác lập quyền sở hữu cho người phạm tội. Đối với giấy tờ có giá ghi danh do quyền sở hữu các loại giấy tờ này gắn liền với cá nhân, tổ chức có tên trong chính giấy tờ có giá đó. Do vậy, về nguyên tắc chỉ người có tên trên giấy tờ có giá mới xác lập được quyền sở hữu đối với loại tài sản này.
- Quyền về tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Quyền tài sản tuy được coi là tài sản nhưng có tính đặc thù, chỉ là một quyền năng mang tính pháp lý được Nhà nước bảo hộ, để chuyển dịch 9 luan an được phải thông qua các thủ tục pháp lý do Nhà nước quy định. Các quyền này thường gắn liền với nhân thân con người hoặc được thể hiện qua các giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Việc chiếm giữ được giấy tờ chứng nhận quyền tài sản không đồng nghĩa với việc được thực hiện quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản [13, tr.
Do vậy, theo tác giả quyền tài sản không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản. - Ngoài ra, một số tài sản sau không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản: + Một số tài sản thuộc loại “bất động sản” có tính chất vật lý cố định, ví dụ như: đất đai, nhà cửa, ao hồ. Những loại tài sản này không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, vì không dịch chuyển được. Tuy nhiên, có một số động sản mà pháp luật dân sự quy định là bất động sản do công dụng của nó như: cánh cửa gắn với ngôi nhà; cây cối trồng trên vườn… thì vẫn là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản.
+ Tài sản vô chủ; tài sản bị rơi, bị bỏ quên, thất lạc; tài sản mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó. + Tài sản thuộc các loại có tính chất và công dụng đặc biệt.