Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ QUY ĐỊNH THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1.1 Lý luận cơ bản về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Theo từ điển Lạc Việt, từ “lừa” được định nghĩa là làm cho người khác mắc sai lầm bằng mưu mẹo hoặc nói dối, còn “lừa đảo” là dùng thủ đoạn để chiếm tài sản, của cải.[2] Trong khoa học pháp lý hình sự, lừa đảo là thuật ngữ đã được xuất hiện từ nhiều thế kỷ qua và được mọi người sử dụng rộng rãi ở trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, về khái niệm tội phạm lừa đảo CĐTS cũng đã được đề cập rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả với nhiều khái niệm khác nhau. Chẳng hạn có quan điểm cho rằng: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác.[3] Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, tuy không nêu cụ thể khái niệm về tội phạm lừa đảo CĐTS, nhưng có định nghĩa chung về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. [4] Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu do vậy khái niệm của nó phải thỏa mãn các đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu đồng thời phải mang trong mình những đặc điểm riêng có, khác biệt để phân biệt với các tội phạm khác thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu.[5] Tương tự như các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác, đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu về tài sản, tức là có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này phải phản ánh được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. Đây cũng là điểm khác giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác vì một số tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu ngoài khách thể là 2 Nguyễn Trí Tân (2020), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sĩ luật hình sự và tố tụng hình sự, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, tr.
3 Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo trình luật hình sự phần các tội phạm - Dành cho hệ sau đại học, Nxb. Khoa học xã hội ,Hà Nội, 2015, tr. 4 Khoản 1, Điều 8, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 5 Hoàng Tấn Cảm (2020), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Tỉnh Thừa Thiên Huế: Tình hình nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 13 quan hệ sở hữu, người phạm tội còn hướng đến khách thể quan trọng khác đó là quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của người bị hại.
Đặc điểm nổi bật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối của người phạm tội, thủ đoạn này chính là nguyên nhân trực tiếp làm cho người bị hại tin là thật mà giao tài sản cho người phạm tội. Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi người bị hại giao tài sản cho người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể mà cấu thành các tội phạm khác. Điều đáng lưu ý đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người bị lừa dối đã tin tưởng và tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội, trong khi người bị hại nghĩ rằng việc giao tài sản cho người phạm tội là ngay thẳng, hợp pháp mà không hề biết là mình đang bị lừa dối, thông thường sau khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản thì người bị hại mới biết mình bị lừa dối. Theo Điều 174 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000 đồng đến dưới 50.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”[6] Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ lý luận như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là loại tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý bằng các thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin nhầm nên trao tài sản để người phạm tội chiếm đoạt.2 Dấu hiệu pháp lý hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.[7] Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản, bao gồm: “…vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” [8].Việc xâm phạm quyền sở hữu cũng thể hiện ở hành vi chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người khác sau khi lừa lấy được tài sản. Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản. Quan hệ sở hữu được xác lập giữa một bên là chủ tài sản có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình và một bên là những người khác có nghĩa vụ tôn 6 Điều 174, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. 7 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, 2019, tr.
8 Khoản 1, Điều 105, Bộ luật dân sự năm 2015. 14 trọng quyền sở hữu của chủ tài sản đó. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm mất khả năng chiếm hữu, quản lí tài sản trên thực tế của chủ tài sản, vi phạm nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu của chủ tài sản, qua đó xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ.[9] Đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp quyền tài sản đều là đối tượng tác động của hành vi xâm phạm sở hữu mà tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, tài sản đó phải đang nằm trong sự quản lý của chủ tài sản, bởi đặc trưng của hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng chiếm hữu, quản lý tài sản trên thực tế và tạo khả năng đó cho người khác chiếm đoạt. Cần lưu ý rằng một số tài sản đặc biệt như: Rừng, tài nguyên khoáng sản, các chất ma túy, vũ khí quân dụng không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại điều này, vì đây là những tài sản đặc biệt, có công dụng, tính năng đặc biệt được pháp luật bảo vệ một cách nghiêm ngặt nên sẽ là đối tượng tác động của những hành vi phạm tội khác được quy định trong BLHS năm 2015 như tội chiếm đoạt chất ma túy Điều 252; tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò khai thác tài nguyên Điều 227 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. - Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.[10] Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm gồm: hành vi (khách quan) nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm, cũng như những biểu hiện bên ngoài khác như: công cụ, phương tiện, địa điểm, thời gian phạm tội.[11] Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở việc người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, khác với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.Thông qua việc gian dối đó mà người có tài sản tin tưởng và tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội.[12] + Hành vi khách quan: 9 Đặng Thị Thanh Huyền (2016), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật, Hà Nội, tr.
10 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb.