mở đầu cho các chủ nghĩa “hậu” nở rộ không ngừng vào đầu thập niên 1960 trong văn chương, tư tưởng xã hội, kinh tế học và cả tôn giáo (“Hậu Cơ Đốc”, Post-Christianity). “Tính đến sau” (Posteriority) – cái cảm giác tiêu cực rằng mình sinh ra sau một thời đại đầy sáng tạo, hay ngược lại, cảm giác tích cực rằng mình đã vượt qua một ý thức hệ tiêu cực – chỉ thật sự phát triển vào thập niên 1970 trong kiến trúc và văn học, hai trung tâm của những vấn đề tranh cãi hậu-hiện đại (chữ này được gạch nối một phần là để chỉ tính tự chủ và mình là một trào lưu tích cực, xây dựng). “Chủ nghĩa hậu hiện đại giải cấu trúc hay hủy tạo” (Deconstructive Postmodernism) nổi lên sau khi các nhà hậu cấu trúc luận người Pháp (Lyotard, Derrida, Baudrillard) bắt đầu được chấp nhận tại Hoa Kỳ vào cuối thập niên 1970; lúc đó phân nửa giới học thuật trên thế giới tin rằng chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ bó hẹp trong những phép biện chứng phủ định và giải cấu trúc. Nhưng vào thập niên 1980 xuất hiện một loạt những trào lưu mới, đầy tính sáng tạo, được gọi bằng nhiều tên khác nhau: chủ nghĩa hậu hiện đại “cấu tạo, xây dựng” (constructive), hậu hiện đại “sinh thái” (ecological), hậu hiện đại “hữu căn” (grounded), và hậu hiện đại “tái cấu trúc” (re-structive).
(Charles Jencks) [2; 6] Chúng tôi chọn định nghĩa của Charles Jencks vì nó gợi nhắc chúng tôi ba vấn đề của hậu hiện đại: 1/ dù được manh nha (về cả thuật ngữ và sáng tác) từ cuối thế kỷ XIX, nhưng chủ nghĩa hậu hiện đại thật sự chỉ trở thành dòng nghệ thuật chủ lưu của nước Mỹ từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, trong sự phát triển rầm rộ của khoa học công nghệ, của văn minh điện toán, và sự bùng nổ của các phương tiện, văn hóa truyền thông; 2/ sự phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại Mỹ vừa gắn liền với thực tế sáng tác trong nước vừa gắn với những tư tưởng “lập thuyết” ngoài nước Mỹ (của J.Baudrillard…); 3/ hậu hiện đại ban đầu bị hiểu như một thứ chủ nghĩa hư vô, phá hủy, nhưng, như vẻ “mơ hồ” của thuật ngữ post-modernism (ngụ ý rằng nó đang vượt qua chủ nghĩa hiện đại nhưng không hề 16 dự báo rằng sau đó sẽ dẫn tới đâu),chủ nghĩa hậu hiện đại có một độ dung chứa đáng kinh ngạc. Tinh thần của hậu hiện đại có lẽ không hoàn toàn chỉ là một chủ nghĩa phủ nhận và hư vô. Chúng ta sẽ lần lượt phân tích từng vấn đề. Nước Mỹ, từ cuối thế kỷ XX đến nay, đã đối diện với những vấn đề rất khác với trước đó: sự biến dạng của chủ nghĩa tư bản từ chủ nghĩa tư bản đế quốc độc quyền thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu; nền kinh tế sản xuất - dịch vụ vươn mình thành kinh tế tri thức (knowledge-based economy – một thuật ngữ chỉ xuất hiện từ sau 1960 bởi một số nhà kinh tế học như Fritz Machlup, Peter Drucker…); chìa khóa của thời đại tri thức là công nghệ thông tin và các mạng liên kết; thế giới cầu thành “thế giới phẳng”10; văn hóa tiêu dùng và các giá trị đại chúng lên ngôi; và chiến tranh được định nghĩa lại.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra sau Chiến tranh Thế giới II, chủ nghĩa hiện đại trên thế giới bắt đầu hỏng hóc. Nhiều tổn thương tinh thần mà nó phải chịu như nhà tù Xô Viết, Cách mạng Văn hóa Trung Quốc, bom nguyên tử thả xuống Nagasaki và Hiroshima của Nhật Bản, nạn tàn sát người Do Thái, bom hủy diệt ở Dresden của Đức… Nước Mỹ rúng động. Từ năm 1947, nước Mỹ lại sa lầy vào cuộc Chiến tranh Lạnh (1947-1991) – một kiểu chiến tranh không bom súng nhưng hủy diệt tận gốc các mối liên kết; phong trào đòi quyền cơ bản của người Mỹ gốc Phi (1955-1968). Năm 1963, Tổng thống John F.
Năm 1975, nước Mỹ vỡ mộng đế quốc tại Việt Nam. Từ những năm 1990, nước Mỹ bắt đầu cảm nhận các dấu hiệu suy thoái kinh tế, như một người già nhận thấy vết đồi mồi trên cơ thể. Cùng với khủng hoảng kinh tế kéo dài đến tận ngày nay, nước Mỹ đồng thời phải đối diện với nạn khủng bố (Ngày 11/9 kinh hoàng, Bin Laden…), với chiến tranh (Iran, Iraq, Libya…) và với sự khủng hoảng lối sống của lớp trẻ. Một số “giá trị Mỹ” được tôn sùng trong lịch sử như dân chủ, tự do, chủ nghĩa anh hùng cá nhân… cũng có những dấu hiệu lung lay.
Mối quan tâm của chúng tôi là tinh thần hậu hiện đại của thời kỳ văn chương hậu hiện đại Mỹ từ khoảng những năm 1960 đến nay. Việc nghiên cứu tinh thần hậu hiện đại trong tiểu thuyết Paul Auster nhất thiết phải đặt trong bối cảnh hậu hiện đại của nước Mỹ, vì hậu hiện đại thật sự đã là một phong cách sáng tác toàn cầu, và tinh thần hậu hiện đại ở mỗi nơi cũng có những khác biệt. Hơn nữa, chính từ nước Mỹ những năm 1960, hậu hiện đại đã có những phác họa đầu tiên về tinh thần nền tảng cho mình và cho thế giới, rồi sau đó, khi lý thuyết hậu hiện đại của Jean-Francois Lyotard thực hiện chuyến du hành và xâm nhập mạnh mẽ từ Pháp đến Mỹ, thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại lần nữa nảy sinh từ nước Mỹ. Tinh thần hậu hiện đại, trước hết, là một tinh thần xã hội, tinh thần thời đại.
Tinh thần hậu hiện đại Mỹ sau Chiến tranh Thế giới II là sự khủng hoảng niềm tin vào những giá trị Mỹ 10 Tên quyển sách của Thomas L.Freidman, The world is flat, 2005. 17 vốn đã là trung tâm của hiện đại, đồng thời không ngây thơ tin vào sự tiến bộ và ảo tưởng về tương lai; là sự trượt dài, hòa tan vào truyền thông và không gian số hóa; là sự phì trương của văn hóa đại chúng; là một thứ tinh thần hoang mang, đổ nát, vừa có vẻ bi đát vừa giỡn chơi, ngông cuồng. Không khí đổi thay của xã hội đã chớm từ sau 1945, nhưng trong lĩnh vực nghệ thuật, sự thay đổi thật sự, như đã nói, chỉ đến khoảng những năm 1960. Nhà nghiên cứu Barry Lewis trong tiểu luận “Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn chương” cho rằng hậu hiện đại là phong cách sáng tác phổ biến nhất ở Mỹ trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1990, và nhắc lại hai dấu mốc của phê bình ở hai mốc thời gian đó, có tác động nhận diện hoạt động sáng tác hậu hiện đại, đó là tiểu luận “Writing American Fiction” (1961) của Philip Roth và “Stalking the Billion-Footed Beast: A Literary Manifesto for the New Socila Novel” (1989) của Tom Wolfe.
“Hai tiểu luận của Roth và Wolfe cho thấy cách thế văn chương đã đáp ứng với thời khí này. Bài của Roth tuyên bố rằng những mẩu tin hằng ngày còn phi lý hơn bất cứ thứ gì văn chương hư cấu có thể diễn tả. Điều này thúc giục hàng trăm nhà văn nhúng tay vào việc thí nghiệm với giả tưởng và sự tự phản tỉnh. Bản tuyên ngôn của Wolfe, mặt khác, lại là một lời hiệu triệu kêu gọi quay về với chủ nghĩa hiện thực.
Ông cho rằng các tiểu thuyết gia hậu hiện đại đã chểnh mảng với việc biểu hiện đời sống phức tạp của đô thị. Cuốn Bonfire of the Vanities (1988) của ông là một cố gắng hồi phục thế quân bình bằng cách ứng dụng những phương pháp ký sự của Balzac và Thackeray vào khu rừng rậm đô thị New York.” [49] Sự khủng hoảng hay cạn kiệt của văn chương hậu hiện đại, chúng ta sẽ bàn sau, nhưng đầu tiên, phải nhận rằng tinh thần hậu hiện đại đã thấm sâu vào văn học Mỹ từ thời điểm 1960. Thử lướt qua danh sách các nhà văn hậu hiện đại thế giới, cũng có thể thấy số lượng tác giả Mỹ chiếm ưu thế. Từ năm 1960 đến nay, có thể kể đến: Walter Abish, Richard Brautigan, Kathy Acker, William Burroughs, Paul Auster, Robert Coover, John Barth, Don De Lillo, Donald Barthelme, Raymon Federman, Thomas Pynchon, William Gass, Ishmael Reed, Steve Katz, Gilbert Sorrentino, Jerzy Kosinski, Ronald Sukenick, Joseph McElroy, Kurt Vonnegut… Sáng tác của các tác giả khác nhau, bản thân họ cũng không gom nhau vào một nhóm để thuyết minh về tinh thần hậu hiện đại, nhưng có những điểm giống nhau căn bản trong văn chương của họ, như: sự phá vỡ trật tự văn bản, sự rỉ mòn của cảm thức thời gian; nhại văn; ngôn ngữ tồn tại như những ký hiệu vật chất manh mún; sự ngẫu nhiên, sự tự vấn.
Về nguồn gốc phát sinh, chúng tôi cho rằng sáng tác của họ khởi phát từ không khí thời đại kết hợp với truyền thống siêu thực, phi lý của văn học phương Tây đã phát triển từ thế kỷ XIX. Những sáng tác hậu hiện đại của họ được chính thức giới thiệu bằng ấn phẩm đầu tiên tại Mỹ - Boundary 2 - tạp chí chuyên về văn hóa và văn chương hậu hiện đại, xuất bản năm 1972 (nay vẫn còn hoạt động). Những người 18 tiên phong giới thiệu văn chương hậu hiện đại trong thời kỳ đó là David Antin, Charles Olson, John Cage, Trường thi ca - nghệ thuật Black Mountain. Năm 1979, tại Pháp, Jean-Francois Lyotard cho ra mắt cuốn sách bàn về thân phận tri thức La Condition Postmoderne (Hoàn cảnh hậu hiện đại).
Nhưng hậu hiện đại mà ông nói tới lại không phải là nền văn chương hậu hiện đại của Mỹ từ 1960, mà khởi phát từ một thực tế lịch sử tại Pháp, ấy là cuộc nổi dậy của sinh viên Pháp mùa xuân 1968 (tiếp nối phong trào hippies ở Mỹ), đã dẫn đến “cuộc cách mạng văn hóa toàn cầu” chống lại mọi hình thức bảo thủ về văn hóa, chính trị, để tìm một không khí sáng tạo tự do hơn. Thú vị là, khi ở Pháp, cuốn sách của J. Lyotard bị đón nhận hờ hững, nhưng năm 1984, khi được dịch sang tiếng Anh, cùng với bài luận ngắn “An Answer to the Question: What is Postmoderism?” đăng trong phần phụ lục, nó lập tức trở thành sách giáo khoa về chủ nghĩa hậu hiện đại tại Mỹ và nhiều nước khác. Từ một sự vay mượn khái niệm này để chồng lớp lên khái niệm kia, những phân tích của ông về tính chất hậu hiện đại được áp dụng để giải thích về văn chương hậu hiện đại Mỹ, và cùng với nhiều lý thuyết của các học giả khác như Clive Bell, Julia Kristeva, Jacques Derrida, Michel Foucault, Jean Baudrillard, Federic Jameson…, một chủ nghĩa hậu hiện đại chính thức ra đời ở Mỹ.
Ảnh hưởng từ triết học của Nietzsche (tôn vinh giá trị cá nhân), J. Lyotard đưa ra quan điểm trọng yếu nhất của mình về hậu hiện đại: giải phóng tri thức khỏi sự thống trị của những méta récit/ grand récit (siêu tự sự, đại tự sự).