Phân tích đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của John Maxwell Coetzee

Luận án tiến sĩ phân tích đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của John Maxwell Coetzee, khám phá sâu sắc phong cách và chủ đề độc đáo của tác giả.

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
208
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

NHÀ VĂN JOHN MAXWELL COETZEE

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của luận án

Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại

1.1.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới

1.1.2. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại ở Việt Nam

1.2. Tình hình nghiên cứu về Coetzee

1.2.1. Nghiên cứu về Coetzee trên thế giới

1.2.2. Nghiên cứu về Coetzee ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA COETZEE NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU THUỘC ĐỊA

2.1. Chế độ Apartheid/hậu Apartheid ở Nam Phi

2.2. Đại tự sự Apartheid - thời kỳ lịch sử bạo lực

2.3. Hậu Apartheid - thời kỳ lịch sử bất ổn

2.4. Tâm thức lưu vong và ngụ ngôn chính trị

2.5. Tâm thức lưu vong và lịch sử “đen” - “trắng”

2.6. Ngụ ngôn đen (allegory) chính trị Nam Phi

2.7. Diễn ngôn “kẻ mạnh”, “kẻ khác”

2.7.1. Diễn ngôn “kẻ mạnh” - người da trắng và mặc cảm phạm tội

2.7.2. Diễn ngôn “kẻ khác” - người da đen bản xứ và mặc cảm trả thù

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA COETZEE NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NHÂN VẬT

3.1. Kiểu con người phi lí, hoài nghi hậu hiện đại gắn với cảm thức hậu thực dân

3.1.1. Con người phi lí mang ý thức phản tỉnh

3.1.2. Con người hoài nghi, cô đơn

3.2. Kiểu con người bị ruồng bỏ, bị chấn thương gắn với cảm thức lưu vong

3.2.1. Con người bị ruồng bỏ

3.2.2. Con người bị chấn thương

3.3. Kiểu con người tính dục, khao khát tự do và hành trình trở về thiên nhiên gắn với cảm thức sinh thái

3.3.1. Con người tính dục, khao khát tự do

3.3.2. Con người hành trình trở về thiên nhiên gắn với cảm thức sinh thái

4. CHƯƠNG 4: KỸ THUẬT TRẦN THUẬT HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA COETZEE

4.1. Kỹ thuật sử dụng người kể chuyện trong tiểu thuyết của Coetzee

4.2. Người kể chuyện và tính chất lưỡng phân ngôi kể

4.3. Điểm nhìn đa chiều và người kể chuyện không đáng tin cậy

4.4. Kỹ thuật trần thuật gắn với tọa độ không - thời gian trong tiểu thuyết của Coetzee

4.5. Kỹ thuật trần thuật thời gian gắn với hành trình trải nghiệm từ trung tâm đến ngoại vi

4.6. Kỹ thuật trần thuật gắn với tọa độ không gian vòng tròn mê cung và thời gian phân mảnh đồng hiện

4.7. Các kỹ thuật trần thuật khác trong tiểu thuyết của Coetzee

4.7.1. Siêu hư cấu trong tiểu thuyết của Coetzee

4.7.2. Kỹ thuật sử dụng giọng điệu hoài nghi, chua chát

4.7.3. Trò chơi nhại, lối viết tự truyện tiểu sử và thủ pháp giản lược

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại

Hậu hiện đại là một trào lưu tư tưởng phổ biến, xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XX, XXI. Trong lĩnh vực văn học hậu hiện đại, thuật ngữ này được sử dụng để chỉ sự khủng hoảng của ngôn ngữ và sự phản kháng chống lại các đại tự sự. John Maxwell Coetzee, một nhà văn Nam Phi đoạt giải Nobel Văn học năm 2003, là đại diện tiêu biểu của văn học hậu hiện đại. Tác phẩm của ông phản ánh tâm thức hậu thuộc địa và những bi kịch con người trong xã hội Nam Phi thời kỳ Apartheidhậu Apartheid.

1.1. Lý thuyết hậu hiện đại trong văn học

Lý thuyết hậu hiện đại được xây dựng dựa trên sự phản kháng chống lại các đại tự sự và sự đa dạng trong cách tiếp cận văn bản. Các nhà lý luận như Jean-François Lyotard và Jacques Derrida đã đóng góp lớn vào việc định hình lý thuyết văn học hậu hiện đại. Coetzee sử dụng các kỹ thuật siêu hư cấungười kể chuyện không đáng tin cậy để phản ánh sự phức tạp của xã hội Nam Phi.

1.2. Ảnh hưởng của hậu hiện đại đến văn học thế giới

Văn học hậu hiện đại đã tác động mạnh mẽ đến văn học thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Coetzee là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Nam Phi, với các tác phẩm phản ánh tâm thức lưu vongngụ ngôn chính trị. Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng và có ảnh hưởng lớn đến văn học đương đại.

II. Đặc điểm hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee

Tiểu thuyết của John Maxwell Coetzee mang đậm dấu ấn của hậu hiện đại, thể hiện qua các yếu tố như tâm thức hậu thuộc địa, nhân vật phi lý, và kỹ thuật trần thuật đa chiều. Tác phẩm của ông phản ánh sự bất ổn của xã hội Nam Phi thời kỳ Apartheidhậu Apartheid, đồng thời đặt ra những câu hỏi nhức nhối về thân phận con người.

2.1. Tâm thức hậu thuộc địa

Tâm thức hậu thuộc địa là một trong những đặc điểm nổi bật trong tiểu thuyết của Coetzee. Tác phẩm của ông phản ánh sự chia rẽ sâu sắc giữa người da trắng và người da đen trong xã hội Nam Phi. Coetzee sử dụng ngụ ngôn chính trị để phê phán chế độ Apartheid và những hậu quả của nó.

2.2. Nhân vật phi lý và hoài nghi

Nhân vật trong tiểu thuyết của Coetzee thường mang tính chất phi lýhoài nghi, phản ánh sự bất ổn của xã hội hậu hiện đại. Những nhân vật này thường bị ruồng bỏchấn thương, thể hiện sự cô đơn và bất lực trước thực tại.

III. Kỹ thuật trần thuật hậu hiện đại

Kỹ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Coetzee mang đậm dấu ấn của hậu hiện đại, với sự sử dụng người kể chuyện không đáng tin cậy, điểm nhìn đa chiều, và thời gian phân mảnh. Những kỹ thuật này giúp Coetzee phản ánh sự phức tạp và bất ổn của xã hội Nam Phi.

3.1. Người kể chuyện không đáng tin cậy

Người kể chuyện không đáng tin cậy là một trong những kỹ thuật trần thuật tiêu biểu của hậu hiện đại. Coetzee sử dụng kỹ thuật này để tạo ra sự mơ hồ và đa nghĩa trong tác phẩm, buộc người đọc phải tự tìm kiếm sự thật.

3.2. Thời gian và không gian phân mảnh

Thời gian phân mảnhkhông gian vòng tròn mê cung là những yếu tố quan trọng trong tiểu thuyết của Coetzee. Những kỹ thuật này giúp tác giả phản ánh sự bất ổn và phức tạp của xã hội hậu hiện đại.

IV. Giá trị và ứng dụng của luận án

Luận án tiến sĩ này không chỉ khẳng định vị trí của John Maxwell Coetzee trong văn học hậu hiện đại mà còn góp phần làm phong phú thêm nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Luận án cung cấp cái nhìn tổng quan về đặc điểm văn học của Coetzee, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà phê bình văn học.

4.1. Đóng góp cho nghiên cứu văn học

Luận án là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống về đặc điểm hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee ở Việt Nam. Nó không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về tác phẩm của Coetzee mà còn góp phần vào văn học so sánh.

4.2. Ứng dụng thực tiễn

Luận án có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học hậu hiện đại. Nó cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành văn học.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của john maxwell coetzee

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương tổng quan, chúng tôi đề cập đến hai nội dung cơ bản. Thứ nhất là tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới và sự ứng dụng trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay để từ đó chúng tôi đi đến kết luận quan trọng: chủ nghĩa hậu hiện đại đang ở thì hiện tại tiếp diễn. Sự hình thành của chủ nghĩa hậu hiện đại là quá trình kế thừa và phát triển các học thuyết trước đó, là sản phẩm của thời đại internet, của cách mạng 4.0 - nền công nghiệp tự động hóa. Những đóng góp của chủ nghĩa hậu hiện đại tác động to lớn đến mọi mặt của cuộc sống, trong đó có lĩnh vực văn học nghệ thuật.

Các hệ tư duy mới ra đời giải quyết gần như triệt để cấu trúc thượng tầng trong đời sống xã hội. Thứ hai là tình hình nghiên cứu hiện tượng Coetzee và tiểu thuyết của ông ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung từ đó đánh giá tổng quan nghiên cứu và hướng triển khai của đề tài. Có thể nói hiện tượng Coetzee trên thế giới đã được nghiên cứu sâu sắc, có hệ thống. Nhiều công trình có tính khái quát cao, phục vụ đắc lực trong học tập và nghiên cứu văn chương đương đại.

Tuy nhiên ở Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào có tính chuyên sâu về hiện tượng Coetzee, đặc biệt nhất là chỉ ra các đặc trưng hậu hiện đại trong sáng tác của ông. Từ việc tổng thuật của đề tài, chúng tôi đi đến khẳng định Coetzee là nhà văn hậu hiện đại được hình thành từ tâm thức thực dân/hậu thực dân. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại là một trào lưu tư tưởng phổ biến (2) và hiện nay đang hình thành khái niệm, đặc trưng khu biệt. Lý thuyết này không chỉ có trong lĩnh vực văn hóa, triết học, hội họa, âm nhạc, văn học,… mà đã phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống con người.

Tuy nhiên, ở phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tổng thuật chủ nghĩa hậu hiện đại trên lĩnh vực văn học để có cái nhìn lịch đại và đồng đại về tình hình nghiên cứu hiện nay. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới Khái niệm hậu hiện đại được định hình ở các lĩnh vực khác đã xuất hiện từ lâu, tuy nhiên trong văn học thì phải vào những năm 60 của thế kỷ XX mới có những công trình ra đời. Năm 1861, nhà khoa học, triết gia người Pháp, Antoine Augustin Cournot nói đến khái niệm hậu lịch sử (post-histoire) trong cuốn Traité de l'enchaînement des idées fondamentales dans les science et dans l'Histoire (Chuyên luận về sự liên kết những ý tưởng cơ bản trong khoa học và sử học). Trong cuốn sách này, Cournot nhắc đến giả thuyết của Hegel về sự hoàn tất lịch sử ở thời điểm hiện đại, để gián tiếp chỉ định những gì xảy ra sau đó là hậu lịch sử.Epsstein thống kê: cuối năm 1998, ở Mỹ, riêng tại các thư viện lớn thống kê được 3579 cuốn sách với đầu đề có từ postmodernism và 2666 cuốn có từ posmodern.

Trong số sách bán trên thị trường có 421 cuốn về posmodernism và 833 cuốn về postmodern (tr. Ở Nga, từ cuối 1980 tới năm 1995, riêng trong lĩnh vực văn hoá đã có khoảng hơn 40 đầu sách về lĩnh vực này (tr. 5 Nửa cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ “chủ nghĩa hậu hiện đại” (postmodernism) xuất hiện trong lĩnh vực hội họa. Đến công trình Antología de la poesía española e hispano-americana (1882-1932) (Tuyển tập thơ Tây Ban Nha và Mĩ Latinh), nhà phê bình Pederico de Onís đã sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại để chỉ sự khủng hoảng của ngôn ngữ trong thơ ca.

Năm 1947, một sử gia nổi tiếng người Anh là Arnold Joseph Toynbee (1889-1975) trong công trình A Study of History (Nghiên cứu lịch sử) đã sử dụng thuật ngữ này nhằm mục đích để “đánh dấu trước sau năm 1875 văn minh phương Tây đã bước vào một chu kỳ lịch sử mới” (Ihab Hassan). Đến những năm 60, 70 của thế kỉ XX, nhiều nhà lý luận Hoa Kỳ, sau đó là cả châu Âu đã sử dụng rộng rãi thuật ngữ này, và đã có nhiều cuộc tranh luận, đối thoại như giữa học giả Pháp Jean Francois Lyotard với học giả Đức Jürgen Harbamas (3)… Công trình La condition postmoderne: rapport sur le savoir (Hoàn cảnh hậu hiện đại: bản tường trình về tri thức, 1979) và tiếp tục được triển khai trong Le différend (Bất đồng, 1983) của Lyotard trở thành “cương lĩnh” cho nội hàm thuật ngữ này. Đến nay, nó được sử dụng rộng khắp trong mọi lĩnh vực: văn học, nghệ thuật, văn hóa, kiến trúc, thể thao, triết học… Năm 1990, Katie Wales đã đưa thuật ngữ Chủ nghĩa hậu hiện đại vào quyển A Dictionary of Stylistics (Từ điển phong cách học). Tác giả xem khái niệm này là một trào lưu tư tưởng xuất hiện từ 1960 trở đi, là sự tiếp nối của chủ nghĩa hiện đại ở châu Âu khước từ hệ quy chiếu hiện thực.

Năm 1996, trong cuốn Literary Theory, An Introduction (Dẫn luận lí luận văn học), Terry Eagleton xác định các phạm trù của hậu hiện đại: tùy tiện, đa trị, lai ghép, lệch tâm, dễ thay đổi, ngưng đọng, hệt như một mô phỏng [101]. Văn chương hậu hiện đại được xem là phản ứng chống lại tư tưởng Khai sáng (Enlightenment) - phong trào ủng hộ lý tính, khoa học và sự hợp lý khởi nguồn từ châu Âu trong thế kỷ XVII - XVIII; chống lại cả sự tiếp cận của những người theo chủ nghĩa hiện đại đối với văn chương. Nó không thích bị định nghĩa hay phân loại là một “trào lưu” (văn chương). Hậu hiện đại có nhiều kiểu lý thuyết phê bình khác nhau, chấp nhận phản ứng đa chiều của người đọc, kể cả cách tiếp cận “giải cấu trúc” (déconstruction) - phương pháp phân tích văn chương của triết gia Pháp Jacques Derrida.

Nó phá vỡ cái gọi là “ngầm hiểu”, sợi dây liên kết giữa tác giả, văn bản và người đọc thông qua tác phẩm. Năm 1941, một số nhà nghiên cứu lý luận văn học khẳng định đây là năm khởi đầu cho chủ nghĩa hậu hiện đại. Tuy nhiên, Keith Hopper lại cho rằng The Third Policeman (Người cảnh sát thứ ba) của Flann O’Brien (nhà văn người Ireland) mới là một trong những tiểu thuyết hậu hiện đại đầu tiên (bản thảo hoàn tất năm 1939 nhưng bị cấm xuất bản, đến năm 1967 mới được ra mắt). Tác phẩm mang những đặc điểm của văn chương hậu hiện đại, sau này rất nhiều các nhà văn khác sử dụng như một hình thức phổ biến: lai lịch và tình huống không thể lí giải của nhân vật, siêu hư cấu.

Một quyển khác của Flann O’Brien có tựa đề là The Dalkey 3(?) Sinh năm 1929, là nhà triết học, xã hội học thực dụng người Đức, có nhiều quan niệm đối lập với Lyotard về chủ nghĩa hậu hiện đại, nổi tiếng với công trình The Philosophical Discourse of Modernity (Diễn ngôn triết học về tính hiện đại - 1985). 6 Archive(4), xuất bản năm 1964, hai năm trước khi tác giả qua đời cũng được xem là tiểu thuyết khởi đầu giai đoạn văn chương hậu hiện đại. Nhìn chung, tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới rất phức tạp, nhưng có thể có hai phương pháp tiếp cận cơ bản: cách tiếp cận và quan niệm văn học hậu hiện đại từ góc độ xã hội học và triết học Tân Marxism và cách tiếp cận văn học hậu hiện đại từ góc độ ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật đặc thù. Từ góc độ xã hội học và triết học có các tác giả như Fredric Jameson với tiểu luận Postmodernism, or, The Cultural Logic of Late Capitalism (Chủ nghĩa hậu hiện đại hay logic văn hóa của chủ nghĩa tư bản hậu kì, 1984); các bài báo Postmodernism for Kids or What is Postmodernism (Chủ nghĩa hậu hiện đại cho người mới tìm hiểu hay chủ nghĩa hậu hiện đại là gì?) của Arup Ratan Ghosh; The romantic, the modern and postmodern (Lãng mạn, hiện đại và hậu hiện đại) của Ashoke Viswanathan; Postmodernism and India: some preliminary animadversions (Chủ nghĩa hậu hiện đại và Ấn Độ: một vài nhận định ban đầu) của Makarand Paranjape… đã chỉ rõ nền tảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản hậu kì đã quy định đến tính chất và diện mạo của văn học.

Ngoài ra, ở Trung Quốc các nhà nghiên cứu như Vương Nhạc Xuyên với Nghiên cứu chủ nghĩa hậu hiện đại (1992), Thịnh Ninh với Nghi hoặc và phản tư nhân văn - phê phán tư trào chủ nghĩa hậu hiện đại phương Tây (1997), Trần Hiểu Minh với Thử thách vô biên - tính hậu hiện đại của văn học tiên phong Trung Quốc (2006) và các bài viết của Ngô Lượng, Trác Hồng, Trần Tư Hòa, Vương Ninh, Đỗ Thư Doanh… đã xác lập lý thuyết văn học hậu hiện đại nằm trong quỹ vận động, phát triển của xã hội thế kỷ XX. Thứ hai là cách tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật. Cách tiếp cận này chịu ảnh hưởng từ lý thuyết giải cấu trúc của Bakhtin, Derrida, Kristeva, Lacan, Foucault. Từ những kiến giải, các nhà hậu hiện đại đã đưa ra những đặc trưng thẩm mĩ của văn học hậu hiện đại như: hỗn độn, hoài nghi, mảnh vỡ, đa trị, lai ghép, ngoại biên, lệch tâm.

Tóm lại, có thể thấy tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới có nhiều thành tựu góp phần định hình nền văn học đương đại. Với việc định hình và phát triển một lí thuyết nghiên cứu văn học mới đã làm cho đời sống phê bình trở nên hấp dẫn, sôi động. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu, phê bình hiện nay vẫn còn có những giới hạn khi xác định phạm trù khái niệm hậu hiện đại. Thứ nhất, đó là sự chồng chéo, có khi đối lập nhau trong việc xác định khái niệm hậu hiện đại.

Thứ hai, chưa làm rõ cũng như chưa xác định phạm trù cái chung và cái riêng trong khái niệm hậu hiện đại. Với đặc điểm hậu hiện đại của mỗi quốc gia, khu vực có những điểm khác nhau, đặc trưng riêng, các nhà hậu hiện đại vẫn chưa tìm thấy điểm chung trên phạm vi toàn thế giới. Dù muốn hay không khái niệm và nội hàm lí thuyết hậu hiện đại đã hiện hữu trong đời sống phê bình văn học. Nó đã xác lập một hệ hình nghiên cứu chính hiện nay và thực sự có nhiều đóng góp thiết thực, làm sinh động hóa các hướng tiếp cận đời sống văn học.

4(?) Đây là cuốn tiểu thuyết thứ năm và cuối cùng của ông. Năm 1965 được Hugh Leonard chuyển thể thành kịch sân khấu với tên gọi The Saints Go Cycling In.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Đặc điểm hậu hiện đại trong tiểu thuyết của John Maxwell Coetzee" là một nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố hậu hiện đại trong tác phẩm của nhà văn đoạt giải Nobel này. Tài liệu này không chỉ phân tích kỹ thuật viết, cấu trúc tác phẩm mà còn khám phá cách Coetzee sử dụng các yếu tố như tính đa nghĩa, sự phá vỡ quy ước văn học, và sự tương tác giữa văn bản và độc giả. Điều này giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự đổi mới và ảnh hưởng của Coetzee trong văn học thế giới.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự về văn học hiện đại và hậu hiện đại, bạn có thể khám phá thêm qua Luận văn nghiên cứu tiểu thuyết Tên của đóa hồng của Umberto Eco nhìn từ lý thuyết giải cấu trúc, nơi phân tích sâu về cách thức giải cấu trúc trong văn học. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ Hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại cung cấp cái nhìn toàn diện về sự phát triển của thể loại hồi ký trong văn học Việt Nam. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ Tính đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về kỹ thuật đối thoại và sự tương tác trong văn học hiện đại.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan.