Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi nước ta trong những năm gần đây đã và đang phát triển ngày càng mạnh với nhiều hình thức, quy mô khác nhau, từ chăn nuôi theo hộ gia đình đến các mô hình chăn nuôi theo mô hình trang trại với số lượng vật nuôi lớn. Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp. Nó là nguồn thu nhập đáng kể của người nông dân góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, sự gia tăng của đàn gia súc, người chăn nuôi gặp không ít khó khăn do dịch bệnh gây ra.
Một trong những bệnh thường gặp gây nhiều thiệt hại trong chăn nuôi là bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis). Bệnh này phát triển mạnh, đặc biệt ở các vùng chăn nuôi lợn tập trung. Nếu không được quan tâm chăm sóc, hộ lý tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể tới 100 % và tỷ lệ chết cũng rất cao, nhất ở giai đoạn từ sơ sinh đến 28 ngày tuổi. Nguyên nhân chính gây bệnh lợn con phân trắng trong giai đoạn theo mẹ chủ yếu là do trực khuẩn đường ruột, cụ thể là do trực khuẩn Escherichia coli (E.coli) sống ở ruột già gây nên.coli thuộc họ vi khuẩn nhỏ, Gram(-), có sức đề kháng cao đối với điều kiện ngoại cảnh.
Ngoài ra, điều kiện thời tiết, khí hậu thay đổi thất thường, chuồng trại, điều kiện vệ sinh, chế độ nuôi dưỡng kém…cũng là nguyên nhân gây ra bệnh phân trắng lợn con. Nếu không điều trị kịp thời thì sẽ dẫn tới còi cọc chậm lớn, sức khỏe yếu và có thể dẫn tới tử vong. Từ đó sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng con giống cũng như năng suất chăn nuôi và gây thiệt hại to lớn đến nền kinh tế. 14 Từ thực trạng trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện chuyên đề “:” Tình hình lợn con bị nhiễm bệnh phân trắng và so sánh hiệu quả điều trị bệnh của hai loại thuốc Multibio và Norfacoli tại Trang trại Công ty cổ phần giống lâm nghiệp Đông Bắc” 2.
Mục đích của việc nghiên cứu - Nắm bắt được tình hình lợn con bị nhiễm bệnh phân trắng ở cơ sở và biết được hiệu quả điều trị của hai loại thuốc Multibio và Norfacoli. - Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết về chăn nuôi lợn nói chung, lợn con nói riêng. Nội dung nghiên cứu của chuyên đề - Xác định tình hình lợn con bị nhiễm bệnh phân trắng tại trang trại Công ty cổ phần giống lâm nghiệp Đông Bắc. - Xác định hiệu quả sử dụng giữa hai loại thuốc Norfacoli và Multibio trong phòng trị bệnh phân trắng cho lợn con giai đoạn theo mẹ.
Ý nghĩa của đề tài 2. Ý nghĩa khoa học Kết quả đề tài là thông tin khoa học về quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn con và một số đặc điểm và bệnh lý lâm sàng của bệnh phân trắng lợn con. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học khuyến cáo cho người chăn nuôi áp dụng các quy trình kỹ thuật chăm sóc, phòng và trị bệnh tiêu chảy ở lợn, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển. Tổng quan tài liệu 2.
Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ Lợn con trong giai đoạn này có tốc độ sinh trưởng phát dục rất nhanh.Theo dõi tốc độ tăng trưởng của lợn con thấy rằng khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày gấp 7- 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 12- 14 lần. 15 Lợn con bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn. Tốc độ nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống.
Có sự giảm này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu lợn con bị giảm thường kéo dài 2 tuần, đây được gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con. Chúng ta có thể hạn chế giai đoạn này bằng cách cho lợn tập ăn sớm và bổ sung Dextran-Fe cho lợn con vào 3 - 7 ngày tuổi Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích luỹ chất dinh dưỡng rất mạnh, lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9- 14 g protein/kg khối lượng. Trong khi đó, lợn lớn chỉ tích luỹ được 0,3- 0,4 g protein/kg khối lưọng. Qua đó, ta thấy cường độ trao đổi chất ở lợn con và lợn trưởng thành chênh lệch khá lớn.
Mặt khác ta biết lợn con trong thời kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính. Vì vậy tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn trưởng thành. Trần Văn Phùng (2004) và cs [11] cho biết : Các thành phần trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều. Hàm lượng lipit tăng nhanh thao tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi.
Hàm lượng protein cũng tăng nhanh theo tuổi nhưng với hàm lượng không nhất định. Hàm lượng khoáng có biến đổi liên quan đến quá trình tạo xương. Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có hàm lượng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21- 56 ngày tuổi giảm không đáng kể 2. Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hoá Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa được hoàn thiện, chủ yếu là sự tăng về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già Dung tích dạ dày của của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) 16 Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 5 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh,lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) Kết quả nghiên cứu của trường Đại học Cam Túc (Trung Quốc) năm 1961 cho thấy như sau: Lợn càng nhỏ thì manh tràng càng lớn và niêm mạc dạ dày phát triển rất nhanh.
Cùng với sự phát triển cả chiều dài đường ruột, dịch tiết cũng tăng lên, dịch vị của lợn thay đổi rất nhiều,trong vòng 1 tháng đầu ion H+ rất thấp thậm chí không có khả năng diệt trùng. Acid chlohydiric (HCl) bắt đầu được tiết ra sau một tháng tuổi và sau thời gian bú sữa nồng độ mới tăng lên, các tuyến tiêu hoá dần dần hoàn thiện làm cho khả năng tiêu hoá cũng tăng lên. Bộ máy tiêu hoá của lợn con biến đổi theo độ tuổi, ở giai đoạn theo mẹ thì pH của dạ dày còn thấp và tăng dần theo độ tuổi (cụ thể: Khi lợn con được 3 tuần tuổi pH của dạ dày là 2,28, khi lợn con được 9 tuần tuổi pH trong dạ dày là 4,96) Một số tác giả khác lại cho rằng lợn con trước 1 tháng tuổi dịch vị không có HCl tự do nên không có khả năng thiêu hoá protein của thức ăn vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này có khả năng tiêu hoá protein. Nhiều tác giả lại cho rằng lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hoá, thực tế của dịch vị có enzym.
Sự tiêu hoá tiêu hoá của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt. Khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết dịch vị mạnh, hơn nữa dịch vị thu được khi cho ăn thức ăn hạt chứa HCl nhiều hơn và sức tiêu hoá nhanh hơn dịch vị khi cho ăn sữa. Men amilaza và maltazacó từ khi lợn con mới đẻ song hoạt tính thấp, sau 3 tuần tuổi mới tiêu hoá tinh bột nhanh và mạnh. Men saccaraza: Đối với lợn dưới 2 tuần tuổi thì hoạt tính thấp.
17 Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi, men này đầu tiên hoạt động mạnh sau đó giảm dần. Men lipaza và chimosin: 2 men này có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu sau đó giảm dần. Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh nên than nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa cân bằng. Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân: - Lông thưa, lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ glycozen dự trữ trong cơ thể còn thấp, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể lợn so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên lợn con đẽ mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp nên lợn con dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
- Hệ thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh nên năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng khi khí hậu bên ngoài thay đổi đột ngột. Mức độ hạ than nhiệt nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ chuông nuôi và tuổi của lợn con. Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp thân nhiệt lợn con hạ xuống càng nhanh, tuổi của lợn con càng ít than nhiệt hạ xuống càng nhiều. Đặc điểm về khả năng miễn dịch Trần Văn Phùng và cs (2004) [11] cho biết: Vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hoá điển hình là bệnh phân trắng lợn con, do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hoá ta có thể kích thích vách tế bào tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con.
Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5- 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể được tiết ra từ 14 ngày tuổi. Lợn con mới đẻ ra, trong máu hầu như không có kháng thể, lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa mẹ.