Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã và đang phát triển hết sức mạnh mẽ, góp phần đẩy mạnh nền kinh tế cả nước đi lên. Đặc biệt, là ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng. Ngành chăn nuôi đã có từ lâu đời, cung cấp lượng thực phẩm lớn với hàm lượng dinh dưỡng cao, phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng. Để phát triển ngành chăn nuôi có hiệu quả, một trong những vấn đề quan trọng là công tác phòng và trị bệnh, đặc biệt là bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng, các biện pháp phòng và trị bệnh kịp thời có hiệu quả sẽ có tác dụng ngăn ngừa, bao vây và ngăn chặn nguồn bệnh, hạn chế khả năng lây lan, hạn chế những thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi.
Tuy nhiên, vấn đề dịch bệnh, trong đó có bệnh cầu trùng vẫn xảy ra phổ biến, gây trở ngại cho ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và đặc điểm thời tiết khí hậu của nước ta, tình trạng kháng thuốc ký sinh trùng nói chung và cầu trùng nói riêng làm cho khả năng biến đổi và thích nghi của cầu trùng rất lớn. Mặt khác, vấn đề vệ sinh thú y chưa đồng bộ ở tất cả các cơ sở chăn nuôi tập thể và tư nhân. Đó chính là nguyên nhân làm cho bệnh cầu trùng gà vẫn tồn tại và là một trong những bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho ngành chăn nuôi gà, đặc biệt là gà nuôi theo hướng công nghiệp. Theo Lê Hữu Khương (2008) [5], tỷ lệ nhiễm cầu trùng tại các trại gà từ 4 – 100%, tùy vào từng cơ sở chăn nuôi, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, giống gà, lứa tuổi, trung bình tỷ lệ nhiễm từ 30 -50%, tỷ lệ chết dao động từ 5 -15%.
Bệnh gây nhiễm nặng ở gà từ 2 đến 6 tuần tuổi, dẫn đến tỷ lệ chết trong đàn cao, nếu gà không chết sẽ trở thành bệnh mãn tính làm cho gà còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng mở đường cho mầm bệnh khác xâm nhập… 2 Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh cầu trùng trên đàn gia cầm và giúp cho người chăn nuôi có hiểu biết thêm về bệnh và biện pháp phòng, trị bệnh nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên đàn gà Isa Shaver hậu bị và biện pháp phòng trị tại trại Gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu. - Xác định được tình hình mắc bệnh và tìm ra thuốc phòng trị tốt nhất để làm cơ sở khuyến cáo trong chăn nuôi. - Bản thân tập làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
Mục tiêu của đề tài. - Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà Isa Shaver nuôi tại trại Gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y. - Xác định hiệu lực của hai loại thuốc Coxymax và Rigencoccin - WS trong phòng và trị bệnh. - So sánh hiệu lực của hai loại thuốc Coxymax và Rigencoccin - WS.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng gà và một số loại thuốc trị cầu trùng hiệu quả. - Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.1 Quá trình thành lập và quy mô của trại - Trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y được xây dựng trên nền của khu trại gà cũ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học từ năm 2013.
Vị trí: + Phía đông giáp khu Hoa viên cây cảnh + Phía tây giáp vườn ươm khoa Lâm Nghiệp + Phía nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng + Phía bắc giáp khu cây trồng cạn. Trại có tổng diện tích là 11. Trong đó: + Khu chăn nuôi quy hoạch tại Trại gia cầm cũ với diện tích là 3. Gồm 2 dãy chuồng với diện tích 316,6 m2 và 2 kho rộng 40 m2, phần diện tích còn lại dùng để chăn thả và trồng cây bóng mát.
Toàn bộ khu vực được rào bằng thép B40 với tổng chiều dài 220 m, đảm bảo ngăn cách với các khu vực khác. + Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48 m2 được chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên. + Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m2. Trong đó hố sát trùng 20 m2, khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10 m2.
+ Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120 m2. Trong đó có các công trình như: 4 01 kho thuốc, dụng cụ thú y: 20 m2 01 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện): 30 m2 01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi: 50 m2 01 kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót….): 20 m2 + Diện tích đất còn lại là 3.960 m2 được quy hoạch để trồng cây thức ăn bổ sung cho gà. Toàn bộ diện tích được rào bằng tường gạch kết hợp với lưới thép B40 với tổng chiều dài là 180 m. Chức năng và nhiệm vụ của trại Xây dựng mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học phục vụ cho học tập, nghiên cứu khoa học, thực tập nghề nghiệp và rèn nghề của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Tình hình sản xuất của trại: + Ngành trồng trọt: Do diện tích của trại nhỏ hẹp, đất đai kém màu mỡ nên ngành trồng trọt của trại chưa có điều kiện phát triển nên chỉ trồng một số cây cho bóng mát và một số cây lấy lá bổ sung cho gà như: cây keo giậu, cây sắn, cây stylo. + Ngành chăn nuôi: Sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng, trại tiến hành đưa vào nuôi hơn 1000 gà sinh sản giống Ai Cập theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học, 300 gà thương phẩm giống Mía x Lương Phượng. Ngoài ra, trại còn nuôi khoảng gần 100 con gà các giống như: gà trọi, gà rừng, gà đa cựa, gà đa ngón nhằm nghiên cứu đặc điểm sinh học và bảo tồn các giống gà này. Hiện nay, trại đang có hơn 500 con gà Isa Shaver sinh sản, 500 con gà Isa Shaver hậu bị, gần 600 con gà thương phẩm Đông Tảo lai, 1000 con chim cút Bên cạnh đó, còn có gần 200 con các loại như: gà đa cựa, gà chọi, gà rừng, chim trĩ, chim bồ câu.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đại cương về cơ thể gia cầm Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại. Gia cầm có nhiều đặc điểm giống với bò sát đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xương nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ trứng sau ấp nở thành gia cầm non. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (2015) [4], cường độ trao đổi chất của gia cầm lớn, thân nhiệt cao 40 – 420C nhờ đó mà gia cầm sinh trưởng nhanh.
* Đặc điểm sinh lý tiêu hoá và trao đổi chất ở gia cầm: Hệ tiêu hóa của gia cầm bao gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tuyến tụy. Sự hình thành các cơ quan tiêu hóa ở dạng nếp gấp của phôi gà bắt đầu từ ngày ấp thứ 2 (tức sau 24 giờ). Cấu tạo và chức năng của bộ máy tiêu hoá gia cầm cũng có những đặc điểm sau: - Khoang miệng: Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về phía trong để đưa thức ăn về phía thực quản, nuốt nguyên vẹn cả thức ăn sau khi thấm một lượng nhỏ nước bọt giúp làm dính và bôi trơn thức ăn dễ chuyển vào thực quản.
Các tuyến ở khoang miệng gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu là nước bọt và dịch nhầy. Trong nước bọt có chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với men tiêu hóa. - Hầu: Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên. Khoang mũi và miệng thông về phía hầu, còn phía trước hầu có khe hô hấp ở thanh quản.
- Thực quản: Thực quản phình to thành diều. Diều gà hình túi, trong diều có thể chứa được 100 - 120g thức ăn. Trong diều thức ăn được thấm ướt 6 chịu tác động của nhiệt trương lên làm mềm và một phần hydrat cacbon được phân hủy dưới tác dụng của men amylaza. Thức ăn từ thực quản xuống dạ dày rất nhanh.
- Dạ dày: Từ diều, thức ăn được đưa vào dạ dày tuyến. Dạ dày tuyến được cấu tạo từ cơ trơn và có dạng ống ngắn, có vách dày nối với dạ dày cơ bằng eo nhỏ, khối lượng 4 - 6g. Thức ăn chịu tác động của dịch vị có chứa men pepsin, axit chlohidric và chất nhầy musin. Thức ăn sau khi được làm ướt sẽ được chuyển đến dạ dày cơ.
Đây là một túi có dạng hình đĩa cấu tạo từ lớp cơ rất dày và khoẻ. Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá mà chỉ có chức năng nghiền nhỏ và trộn đều thức ăn với dịch vị của dạ dày tuyến. Dưới tác dụng của men dịch vị dạ dày. Protein được phân giải thành peptone và các axit amin.
- Ruột non: Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào ruột non, tại đây có các men của dịch ruột và tuyến tuỵ làm giảm nồng độ axit tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của men phân giải protein và gluxit trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu. Ở ruột, gluxit được phân giải thành các monosacarit nhờ men amilaza của dịch tuỵ và một phần của dịch ruột, protit được phân giải đến pepton và polipeptit, tiếp đó các men proteolyse của dịch tuỵ sẽ phân giải thành các axit amin, lipit thì được chuyển hoá thành glyxerin và các axit béo nhờ men lipaza. Chất xơ được tiêu hoá một lượng nhỏ ở manh tràng nhờ quá trình hoạt động của các vi khuẩn (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [3]). * Những hiểu biết về gà Isa Shaver - Nguồn gốc: Gà Isa Shaver là một dòng gà chuyên trứng trong giống gà ISA.