Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến TNNL của các ngân hàng thương mại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đoàn Việt Hùng thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đức Trung, hoàn thành vào tháng 1 năm 2020. Luận án thuộc chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, theo định hướng nghiên cứu định lượng kết hợp phân tích thực trạng.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ xu hướng chuyển dịch cơ cấu hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại trên thế giới nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng truyền thống và gia tăng nguồn thu nhập ngoài lãi (TNNL). Theo số liệu được tác giả dẫn giải, TNNL đã chiếm hơn 40% thu nhập hoạt động trong ngành ngân hàng toàn cầu từ đầu những năm 2000 (DeYoung và Rice 2004); tỷ lệ TNNL trên tổng thu nhập bình quân giai đoạn 2002-2007 của hệ thống ngân hàng châu Âu đạt 34,1%, và hệ thống ngân hàng châu Á giai đoạn 1995-2009 đạt 65%. Tại Việt Nam, Quyết định số 254/QĐ-TTg về cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 và Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/08/2018 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã đặt mục tiêu gia tăng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng lên mức tăng khoảng 12 - 13% vào cuối năm 2020. Mặc dù vậy, tỷ lệ này tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (NHTMCPVN) giai đoạn 2011-2017 mới đạt bình quân 20,48% (riêng năm 2017 đạt 23,31%). Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là sự thiếu đồng nhất trong kết quả của các nghiên cứu trước đây về tác động của các yếu tố vi mô và vĩ mô, đồng thời tại Việt Nam chưa có công trình nào đánh giá tác động của yếu tố cạnh tranh và chỉ số quản trị cấp quốc gia đến TNNL.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định các yếu tố tác động và ước lượng mức độ tác động của các yếu tố đến TNNL của các NHTMVN; từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao TNNL cho các NHTMVN.
  • Mục tiêu cụ thể: (1) Phân tích thực trạng đa dạng hoá hoạt động và TNNL của các NHTMCPVN. (2) Xác định chiều hướng tác động và ước lượng mức độ tác động của các yếu tố đến TNNL của các NHTMCPVN. (3) Đề xuất các khuyến nghị nhằm gia tăng TNNL, qua đó nâng cao TNNL của các NHTMCPVN.

Câu hỏi nghiên cứu bao gồm ba câu hỏi đánh số theo văn bản: (1) Thực trạng việc đa dạng hóa hoạt động và TNNL của các NHTMCPVN như thế nào? (2) Chiều hướng tác động và mức độ tác động của các yếu tố đến TNNL của các NHTMCPVN? (3) Các khuyến nghị nào nhằm nâng cao TNNL cho các NHTMCPVN?

Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến TNNL của các NHTMCPVN. Phạm vi nghiên cứu về không gian và dữ liệu bao gồm 27 NHTMCPVN; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp kéo dài 8 năm, từ năm 2010 đến năm 2017. Nguồn dữ liệu gồm báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên của 27 ngân hàng, các báo cáo tổng kết của Ngân hàng Nhà nước, cùng các chỉ tiêu vĩ mô từ World Bank, Tổng cục Thống kê Việt Nam và Thomson Reuters.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm yếu tố chính: nhóm yếu tố vi mô nội tại ngân hàng, nhóm yếu tố vĩ mô và nhóm yếu tố cạnh tranh - cấu trúc thị trường.

Ở nhóm yếu tố vi mô nội tại, các nghiên cứu quốc tế được điểm lại gồm: Rogers và Sinkey Jr (1999) chứng minh mối quan hệ nghịch biến giữa TNNL với tỷ lệ vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng. Davis và Tuori (2000b) nghiên cứu tại 28 nước OECD chỉ ra mối liên hệ đồng biến giữa quy mô, tỷ lệ chi phí trên thu nhập với TNNL. DeYoung và Rice (2004) cùng DeYoung, Hunter và Udell (2004) phân tích 4.712 ngân hàng thương mại tại Mỹ (1989-2001), kết luận TNNL tăng theo quy mô và công nghệ nhưng có quan hệ nghịch biến với chất lượng quản trị. Shahimi, Ismail, Ghafar và Ahmad (2006) tại Malaysia tìm thấy tương quan đồng biến giữa tỷ lệ thu nhập từ phí với quy mô tài sản và tỷ lệ tiền gửi cơ sở, đồng thời nghịch biến với vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản. Hahm (2008) với 662 ngân hàng tại 29 nước OECD ghi nhận các ngân hàng có quy mô lớn, chi phí cao và lãi cận biên thấp có xu hướng tạo TNNL cao hơn. Lepetit, Nys, Rous và Tarazi (2008a) tại châu Âu chỉ ra các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào hoạt động phi truyền thống có chi phí nhân viên cao và đối mặt rủi ro cao hơn. Al-Horani (2010) tại Jordan phân tích phản ứng trái chiều của thị trường đối với TNNL ở ngân hàng quy mô lớn và nhỏ. Rotich, Okaka và Aywa (2011) tại Kenya chứng minh TNNL giúp ổn định lợi nhuận ròng. Aslam và ctg. (2015) tại Pakistan, Meng và ctg. (2018) tại Trung Quốc, Hamdi và ctg. (2017) tại Tunisia, Atellu (2016) và Njenga (2014) tại Kenya đều khẳng định vai trò của quy mô, vốn chủ sở hữu, kênh thanh toán ATM và thẻ tín dụng đối với TNNL. Tại Việt Nam, Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Hạnh Hoa (2013), Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2016), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017), Nguyễn Thị Liên Hoa và Nguyễn Thị Kim Oanh (2018) đều phân tích tác động của quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay và tiền gửi đến TNNL.

Ở nhóm yếu tố kinh tế vĩ mô, các công trình quốc tế của Hahm (2008), Chortareas, Garza-García và Girardone (2012), Hakimi và ctg. (2012), Nguyen, Skully và Perera (2012), Damankah và ctg. (2014), Engle, Moshirian, Sahgal và Zhang (2014) cho thấy tăng trưởng GDP, lạm phát và lãi suất có tác động đa chiều đến TNNL tùy thuộc vào mức độ phát triển tài chính của từng quốc gia. Tại Việt Nam, Đặng Hữu Mẫn và Hoàng Dương Việt Anh (2014) chỉ ra lạm phát và chất lượng thể chế điều tiết chính sách tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động ngân hàng; Trần Chí Chinh và Nguyễn Hữu Tiến (2016) nhận thấy CPI tác động thuận chiều nhưng GDP không có ý nghĩa thống kê; Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016) ghi nhận GDP và lạm phát tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động; Đoàn Anh Tuấn (2018) phân tích tác động của bất định chính trị đến hiệu quả ngân hàng.

Ở nhóm yếu tố cạnh tranh và cấu trúc thị trường, các nghiên cứu quốc tế gồm Casu và Girardone (2009), Carbo-Valverde, Rodriguez-Fernandez và Udell (2009), Ariss (2010), Soedarmono, Machrouh và Tarazi (2011), J. Nguyen (2012), Kasman và Carvallo (2014), Fu, Lin và Molyneux (2014) sử dụng chỉ số Lerner và HHI để đo lường sức mạnh thị trường và mức độ cạnh tranh. Tại Việt Nam, Võ Xuân Vinh và Dương Thị Ánh Tiên (2017), Võ Xuân Vinh và Đặng Bửu Kiếm (2016), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014) đã ứng dụng chỉ số Lerner và HHI trong phân tích ngân hàng.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả lựa chọn giải quyết gồm ba điểm then chốt:

  • Thứ nhất, các kết quả thực nghiệm trong và ngoài nước về các yếu tố tác động đến TNNL còn mâu thuẫn, chưa có sự thống nhất về chiều hướng tác động của biến quy mô, lãi suất, lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
  • Thứ hai, tại Việt Nam chưa có công trình thực nghiệm nào đặt TNNL trong mối quan hệ trực tiếp với biến cạnh tranh (chỉ số Lerner) và chỉ số đa dạng hóa thu nhập (HHI).
  • Thứ ba, luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam đưa chỉ số quản trị cấp quốc gia (Governance Index) theo bộ chỉ số WGI của World Bank, cụ thể là biến ổn định chính trị và phi bạo lực (PVE), vào mô hình giải thích TNNL, đồng thời áp dụng phương pháp hồi quy LASSO để kiểm định lại kết quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên bốn nền tảng lý thuyết kinh tế và tài chính:

  1. Lý thuyết nguồn lực (Resource-based view): Xuất phát từ Wernerfelt (1984), phát triển bởi Barney (1991), Peteraf (1993), Conner, Abernethy và Falloon (1992). Lý thuyết khẳng định lợi thế cạnh tranh và thu nhập của ngân hàng xuất phát từ các nguồn lực bên trong có giá trị, hiếm, khó bắt chước và không thể thay thế. Nguồn lực tài chính được đo lường thông qua quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ tiền gửi, khả năng sinh lời (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và tỷ lệ chi phí.
  2. Lý thuyết quyền lực thị trường (Market power theory): Tiếp cận theo mô hình cấu trúc - hành vi - kết quả (SCP) từ Bain (1956), Short (1979), Berger và Hannan (1998). Lý thuyết giải thích mức độ tập trung thị trường cho phép ngân hàng định giá cao hơn chi phí biên để thu lợi nhuận. Luận án đo lường sức mạnh thị trường bằng chỉ số Lerner (Lerner 1934; Ariss 2010), tính bằng công thức: $$Lerner_{it} = \frac{P_{it} - MC_{it}}{P_{it}}$$ Trong đó $P_{it}$ là giá đầu ra (tổng doanh thu/tổng tài sản) và $MC_{it}$ là chi phí biên được ước lượng từ hàm tổng chi phí translog qua hai bước với ba giá đầu vào gồm giá vốn tiền gửi ($w_1$), giá vốn vật chất ($w_2$), giá lao động ($w_3$) và biến thời gian phản ánh công nghệ ($T$).
  3. Lý thuyết tài chính và đa dạng hóa thu nhập: Phát triển từ Baele, De Jonghe và Vander Vennet (2007), Kevin J. Stiroh (2004), Stiroh và Rumble (2006), Saunders, Schmid và Walter (2016). Lý thuyết chỉ ra việc mở rộng danh mục dịch vụ giúp tận dụng tính kinh tế theo quy mô, bán chéo sản phẩm và giảm thiểu rủi ro hoạt động. Mức độ đa dạng hóa thu nhập được đo lường bằng chỉ số HHI: $$HHI_{it} = 1 - \left[ \left(\frac{INT_{it}}{TOR_{it}}\right)^2 + \left(\frac{CPE_{it}}{TOR_{it}}\right)^2 + \left(\frac{TRA_{it}}{TOR_{it}}\right)^2 + \left(\frac{OTH_{it}}{TOR_{it}}\right)^2 \right]$$ Trong đó $TOR$ là tổng thu nhập hoạt động; $INT$ là thu nhập lãi thuần; $CPE$ là thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ; $TRA$ là thu nhập thuần từ kinh doanh, đầu tư; $OTH$ là thu nhập thuần từ hoạt động khác.
  4. Lý thuyết thể chế (Institutional theory): Đại diện bởi North (1990), Tilman (1997), Kasper và Streit (1999), Kaufmann, Kraay và Mastruzzi (2003). Thể chế định hình các quy tắc và tính minh bạch của môi trường kinh doanh. Luận án sử dụng các chỉ số thuộc bộ chỉ số quản trị cấp quốc gia WGI của World Bank, tiêu biểu là biến ổn định chính trị và phi bạo lực (PVE) và kiểm soát tham nhũng (CCE).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo mô hình định lượng với dữ liệu bảng cân bằng (balanced panel data) gồm 27 NHTMCPVN trong 8 năm (2010-2017), tương ứng 216 quan sát. Quy trình ước lượng và kiểm định kinh tế lượng diễn ra qua các bước:

  • Thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan Pearson và kiểm tra đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai (VIF).
  • Ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính dữ liệu bảng qua ba phương pháp: Pooled-OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
  • Thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình: kiểm định F (chọn giữa Pooled-OLS và FEM) và kiểm định Hausman (chọn giữa FEM và REM).
  • Thực hiện các kiểm định chẩn đoán khuyết tật mô hình: kiểm định Wald kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi và kiểm định Wooldridge kiểm tra hiện tượng tự tương quan.
  • Sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục triệt để hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan đã được phát hiện qua kiểm định.
  • Áp dụng phương pháp hồi quy GMM (Mô hình bảng động tuyến tính - General moment model) nhằm kiểm soát hiện tượng nội sinh tiềm ẩn giữa biến phụ thuộc trễ và các biến độc lập vi mô.
  • Sử dụng phương pháp hồi quy LASSO (Least Absolute Shrinkage and Selection Operator) để chọn lọc biến và kiểm định lại các yếu tố tác động đến TNNL, khắc phục nhược điểm của việc đưa quá nhiều biến vào mô hình tuyến tính thông thường.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:

  • Báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thường niên của 27 NHTMCPVN giai đoạn 2010-2017.
  • Báo cáo tổng kết thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Dữ liệu vĩ mô và quản trị quốc gia từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (World Bank - WGI) và Thomson Reuters.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương 1 thiết lập tổng thể đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày bối cảnh quốc tế và thực trạng tái cơ cấu thu nhập của ngành ngân hàng Việt Nam theo Quyết định 254/QĐ-TTg và Quyết định 986/QĐ-TTg. Từ đó, chương xác định mục tiêu tổng quát, ba mục tiêu cụ thể, ba câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu (các yếu tố ảnh hưởng đến TNNL), phạm vi nghiên cứu (27 NHTMCPVN, giai đoạn 2010-2017 với 216 quan sát). Tác giả khái quát phương pháp nghiên cứu định lượng, nêu rõ tính mới về mặt khoa học khi bổ sung biến cạnh tranh và biến quản trị quốc gia, nêu đóng góp thực tiễn và phác thảo kết cấu 5 chương của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận về thu nhập ngoài lãi và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại

Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của các khái niệm then chốt: định nghĩa ngân hàng thương mại, khái niệm TNNL (phần chênh lệch giữa tổng doanh thu hoạt động trừ thu nhập lãi ròng), bốn thành phần của TNNL (thu nhập ủy thác, phí dịch vụ, doanh số giao dịch, lệ phí và các khoản thu nhập khác) và vai trò của TNNL trong việc phân tán rủi ro tín dụng. Chương đi sâu phân tích bốn lý thuyết nền tảng: lý thuyết nguồn lực, lý thuyết quyền lực thị trường, lý thuyết tài chính và đa dạng hóa thu nhập, lý thuyết thể chế. Đồng thời, chương phân tích cơ chế tác động của các yếu tố: sự điều tiết của chính phủ, hiệu quả hoạt động, phát triển công nghệ (máy ATM, thẻ tín dụng), quy mô ngân hàng, lãi suất, tăng trưởng kinh tế. Cuối chương, tác giả điểm luận chi tiết các công trình thực nghiệm quốc tế và Việt Nam, từ đó xác lập ba khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết mô hình nghiên cứu đề xuất, định nghĩa và phương pháp đo lường các biến số, cùng các giả thuyết nghiên cứu. Mô hình bao gồm biến phụ thuộc TNNL và các nhóm biến độc lập:

  • Nhóm biến vi mô: tỷ lệ tiền gửi (DEP), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQUITY), biến công nghệ (TEC - đo lường qua số lượng máy ATM/POS), tỷ lệ chi phí hoạt động (COST), tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA).
  • Nhóm biến vĩ mô và thể chế: tỷ lệ lạm phát (INF), tăng trưởng GDP (GDP), lãi suất (IR), chỉ số kiểm soát tham nhũng (CCE), chỉ số ổn định chính trị và phi bạo lực (PVE).
  • Nhóm biến cạnh tranh và cấu trúc: chỉ số cạnh tranh Lerner (COM), chỉ số đa dạng hóa thu nhập (HHI). Chương mô tả quy trình thu thập dữ liệu bảng cân bằng của 27 ngân hàng, giải trình chi tiết thuật toán ước lượng Pooled-OLS, FEM, REM, các kiểm định chẩn đoán F-test, Hausman, kiểm định Wald, kiểm định Wooldridge, mô hình khắc phục FGLS, mô hình bảng động GMM và kỹ thuật hồi quy LASSO.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 mở đầu bằng việc đánh giá bức tranh kinh tế vĩ mô và thực trạng kinh doanh của 27 NHTMCPVN giai đoạn 2010-2017:

  • Tốc độ tăng vốn điều lệ, vốn huy động và tổng tài sản diễn ra nhanh nhưng khả năng sinh lời không tăng tương xứng.
  • Tỷ trọng TNNL trong tổng thu nhập bình quân giai đoạn 2010-2017 đạt 20,47% (giai đoạn 2011-2017 đạt 20,48%, riêng năm 2017 đạt 23,31%). Cấu cấu TNNL chủ yếu hình thành từ dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, ủy thác, đại lý và nợ xấu đã xử lý.
  • Thống kê mô tả và phân tích tương quan cho thấy các biến có mối liên hệ nhất định, kiểm tra VIF khẳng định mô hình không bị đa cộng tuyến nghiêm trọng.
  • Kiểm định lựa chọn mô hình xác nhận FEM phù hợp hơn Pooled-OLS và REM. Kiểm định Wald cho thấy mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi ($p < 0,05$), kiểm định Wooldridge xác nhận có hiện tượng tự tương quan ($p < 0,05$).
  • Tác giả ước lượng lại bằng mô hình FGLS để khắc phục khuyết tật, xác định 8 biến có ý nghĩa thống kê: NIM, EQUITY, TEC, COST, INF, GDP, IR, CCE.
  • Ước lượng mô hình bảng động GMM kiểm soát nội sinh chỉ ra 11 biến có ý nghĩa thống kê tác động đến TNNL: DEP, NIM, EQUITY, TEC, COST, ROA, INF, IR, PVE, COM, HHI.
  • Hồi quy LASSO xác nhận sự ổn định và nhất quán của các biến tác động đến TNNL, đặc biệt là nhóm biến vi mô và biến thể chế PVE. Chương kết thúc bằng việc đối chiếu, thảo luận kết quả thực nghiệm với các nghiên cứu của DeYoung và Rice (2004), Hahm (2008), Chortareas và ctg. (2012).

Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị

Chương 5 tóm tắt các kết quả chính của công trình và đề xuất hệ thống khuyến nghị thực tiễn dựa trên kết quả định lượng:

  • Khuyến nghị đối với nhà quản trị các NHTMCPVN (nhóm vi mô): Hoạch định chiến lược tăng vốn chủ sở hữu (EQUITY) để tạo nền tảng phát triển dịch vụ; quản lý và kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ chi phí hoạt động (COST); tối ưu hóa thu nhập lãi cận biên (NIM); nâng cao hiệu quả sinh lời trên tài sản (ROA); tiếp tục đầu tư mở rộng hạ tầng công nghệ thanh toán (TEC) bao gồm hệ thống ATM, POS và ngân hàng điện tử.
  • Khuyến nghị đối với nhóm cạnh tranh (COM và HHI): Nâng cao năng lực cạnh tranh phi giá cả bằng cách cải tiến chất lượng dịch vụ; thúc đẩy đa dạng hóa danh mục sản phẩm ngoài tín dụng để cải thiện chỉ số HHI.
  • Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước (nhóm vĩ mô): Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ cần kiên định điều hành ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát (INF) và duy trì mặt bằng lãi suất (IR) hợp lý, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế (GDP).
  • Khuyến nghị đối với chỉ số quản trị cấp quốc gia: Nâng cao hiệu lực quản trị công, duy trì ổn định chính trị và trật tự xã hội (PVE) nhằm tạo môi trường minh bạch cho hoạt động kinh doanh ngân hàng. Cuối chương, tác giả trình bày các hạn chế về dữ liệu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tổng hợp kết quả tác động của các yếu tố đến TNNL của các NHTMCPVN thông qua các mô hình định lượng. Bảng dưới đây tổng hợp các yếu tố có ý nghĩa thống kê theo hai phương pháp ước lượng chủ đạo trong văn bản:

Nhóm yếu tố Tên biến Ký hiệu Ý nghĩa thống kê trong mô hình FGLS Ý nghĩa thống kê trong mô hình GMM Chiều hướng tác động ghi nhận
Vi mô (Đặc điểm ngân hàng) Tỷ lệ tiền gửi DEP Không Có Tác động có ý nghĩa
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM Có Có Tác động có ý nghĩa
Vốn chủ sở hữu EQUITY Có Có Tác động có ý nghĩa
Công nghệ (ATM/POS) TEC Có Có Tác động có ý nghĩa
Tỷ lệ chi phí COST Có Có Tác động có ý nghĩa
Khả năng sinh lời ROA Không Có Tác động có ý nghĩa
Vĩ mô và Thể chế Tỷ lệ lạm phát INF Có Có Tác động có ý nghĩa
Tăng trưởng GDP GDP Có Không Tác động có ý nghĩa
Lãi suất IR Có Có Tác động có ý nghĩa
Kiểm soát tham nhũng CCE Có Không Tác động có ý nghĩa
Ổn định chính trị PVE Không Có Tác động có ý nghĩa
Cạnh tranh và Cấu trúc Chỉ số cạnh tranh Lerner COM Không Có Tác động có ý nghĩa
Đa dạng hóa thu nhập HHI Không Có Tác động có ý nghĩa

Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học của luận án:

  • Luận án đã tích hợp đồng thời bốn khung lý thuyết (nguồn lực, quyền lực thị trường, tài chính và thể chế) để phân tích toàn diện các yếu tố chi phối TNNL tại một thị trường mới nổi như Việt Nam.
  • Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam đưa biến cạnh tranh ngân hàng (đo lường bằng chỉ số Lerner ước lượng từ hàm chi phí biên translog) và chỉ số đa dạng hóa thu nhập HHI vào phân tích thực nghiệm tác động đến TNNL.
  • Luận án là nghiên cứu đầu tiên đưa chỉ số quản trị cấp quốc gia theo bộ chỉ số WGI của Ngân hàng Thế giới (đặc biệt là biến PVE - Ổn định chính trị và phi bạo lực) vào đánh giá tác động đối với TNNL của hệ thống ngân hàng thương mại.
  • Về mặt kỹ thuật xử lý dữ liệu, luận án kết hợp đồng thời mô hình FGLS khắc phục phương sai thay đổi và tự tương quan, mô hình GMM xử lý biến nội sinh, cùng kỹ thuật hồi quy LASSO để chọn lọc và kiểm định lại các yếu tố ảnh hưởng, giúp kết luận đạt độ tin cậy thực nghiệm cao.

Những phát hiện thực tiễn và đề xuất giải pháp:

  • Luận án cung cấp số liệu thực nghiệm cho thấy tỷ trọng TNNL của các NHTMCPVN trong giai đoạn 2010-2017 đạt mức trung bình 20,47% tổng thu nhập, cơ bản phụ thuộc vào các dịch vụ truyền thống như thanh toán, tiền mặt, dịch vụ đại lý và xử lý nợ tồn đọng.
  • Sự gia tăng về quy mô tài sản và vốn huy động chưa mang lại hiệu quả sinh lời tương xứng cho các ngân hàng trong giai đoạn khảo sát.
  • Hệ thống khuyến nghị được xây dựng có căn cứ định lượng rõ ràng: định hướng các nhà quản trị ngân hàng tập trung kiểm soát chi phí, tăng cường nguồn vốn tự có, hiện đại hóa công nghệ thanh toán điện tử; đồng thời khuyến nghị các cơ quan quản lý nhà nước duy trì ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng quản trị thể chế để thúc đẩy các ngân hàng chuyển dịch cơ cấu thu nhập theo đúng định hướng tại Quyết định 254/QĐ-TTg và Quyết định 986/QĐ-TTg.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định các điểm sau:

  • Mẫu nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phạm vi 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, chưa bao quát toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng như ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng liên doanh hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
  • Khung thời gian dữ liệu dừng lại ở năm 2017 (chuỗi số liệu 2010-2017), chưa phản ánh được các biến động của thị trường ngân hàng trong giai đoạn từ sau năm 2017 đến nay.
  • Một số thành phần chi tiết của TNNL chưa được bóc tách sâu trong mô hình định lượng do hạn chế trong việc công bố thông tin chi tiết trên báo cáo tài chính của các ngân hàng.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mẫu nghiên cứu và kéo dài chuỗi thời gian khảo sát sau năm 2017 nhằm tăng cường tính đại diện và cập nhật các chính sách mới của ngành ngân hàng.
  • Khai thác sâu hơn việc ứng dụng các thuật toán máy học và mô hình kinh tế lượng phi tuyến tính (như hồi quy LASSO mở rộng) để kiểm tra các mối quan hệ phức tạp giữa cạnh tranh, quản trị thể chế và các cấu phần chi tiết của thu nhập ngoài lãi.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho ba nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Luận án cung cấp quy trình nghiên cứu thực nghiệm chuẩn mực cho dữ liệu bảng kinh tế lượng. Đáng chú ý là phương pháp ước lượng hàm chi phí translog hai bước để tính chỉ số Lerner (Chương 2 và Chương 3), cách tính chỉ số HHI đa dạng hóa thu nhập bốn cấu phần, cùng kỹ thuật đối chiếu kết quả giữa FGLS, GMM và hồi quy LASSO (Chương 3 và Chương 4).
  • Đối với ban quản trị và nhà điều hành các ngân hàng thương mại cổ phần: Chương 4 và Chương 5 là tài liệu tham khảo trực tiếp giúp nhận diện rõ thực trạng cơ cấu nguồn thu, mức độ đóng góp của dịch vụ thanh toán và xử lý nợ. Các phát hiện về mối quan hệ giữa chi phí, công nghệ (ATM/POS), vốn chủ sở hữu và NIM đối với TNNL cung cấp căn cứ để xây dựng kế hoạch kinh doanh và phân bổ vốn đầu tư công nghệ hợp lý.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Nội dung Chương 1, Chương 4 và Chương 5 cung cấp luận cứ thực nghiệm về thực trạng thực hiện Đề án 254 và Chiến lược phát triển ngành ngân hàng theo Quyết định 986, minh chứng rằng chính sách ổn định vĩ mô và chỉ số quản trị quốc gia có ảnh hưởng thực chất đến sự chuyển dịch mô hình kinh doanh của hệ thống ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu dữ liệu và khung thời gian nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào? Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu bảng cân bằng gồm 27 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 8 năm từ năm 2010 đến năm 2017, tạo ra tổng số 216 quan sát. Dữ liệu được trích xuất từ báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên của các ngân hàng, báo cáo tổng kết của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế như World Bank và Thomson Reuters.

2. Tỷ trọng thu nhập ngoài lãi của các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu đạt mức bao nhiêu và đến từ những nguồn nào? Theo tính toán của tác giả, tỷ trọng TNNL bình quân trong tổng thu nhập của các NHTMCPVN giai đoạn 2010-2017 đạt 20,47% (giai đoạn 2011-2017 đạt bình quân 20,48%, riêng năm 2017 đạt 23,31%). Nguồn TNNL này chủ yếu hình thành từ hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, thu từ nghiệp vụ ủy thác, đại lý và các khoản thu hồi nợ xấu đã được xử lý.

3. Tác giả đã sử dụng các mô hình và phương pháp hồi quy kinh tế lượng nào trong nghiên cứu? Luận án đã áp dụng hệ thống gồm 6 phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng: Pooled-OLS, mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục phương sai thay đổi và tự tương quan, mô hình bảng động GMM để xử lý vấn đề nội sinh, và phương pháp hồi quy LASSO để chọn lọc và kiểm định lại các yếu tố tác động.

4. Điểm mới mang tính học thuật nổi bật của luận án so với các công trình trước đây tại Việt Nam là gì? Luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh (chỉ số Lerner) và TNNL, đồng thời là nghiên cứu đầu tiên đưa biến hiệu quả quản trị ở cấp quốc gia (Governance Index của World Bank, tiêu biểu là biến PVE về ổn định chính trị) vào mô hình định lượng giải thích TNNL. Ngoài ra, việc kết hợp kiểm định bằng hồi quy LASSO cũng là một thử nghiệm phương pháp mới trong lĩnh vực này tại Việt Nam.

5. Theo phương pháp hồi quy GMM, những yếu tố nào có ảnh hưởng và có ý nghĩa thống kê đến thu nhập ngoài lãi? Kết quả ước lượng theo phương pháp GMM chỉ ra có 11 yếu tố có ảnh hưởng và đều đạt ý nghĩa thống kê đối với TNNL của các NHTMCPVN, bao gồm: tỷ lệ tiền gửi (DEP), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ vốn chủ sở hữu (EQUITY), công nghệ (TEC), tỷ lệ chi phí (COST), tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ lệ lạm phát (INF), lãi suất (IR), chỉ số ổn định chính trị (PVE), chỉ số cạnh tranh Lerner (COM) và chỉ số đa dạng hóa thu nhập (HHI).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Việt Hùng đã giải quyết một cách có hệ thống các mục tiêu nghiên cứu đặt ra về thực trạng và các yếu tố tác động đến thu nhập ngoài lãi tại 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2010-2017. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết kinh tế lượng hiện đại và kiểm định vững bằng mô hình GMM cùng kỹ thuật hồi quy LASSO, luận án khẳng định vai trò quyết định của các yếu tố nội tại ngân hàng, môi trường vĩ mô, mức độ cạnh tranh và chất lượng thể chế quản trị quốc gia đối với TNNL. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng, phục vụ công tác hoạch định chính sách tiền tệ của cơ quan quản lý cũng như chiến lược đa dạng hóa kinh doanh của các nhà quản trị ngân hàng thương mại tại Việt Nam.