Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý của trầm tích oligocen miocen khu vực lô 123 và 124 bể phú khánh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý trầm tích oligocen miocen khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh.

Chuyên ngành

Địa chất học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

80
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, LỊCH SỬ TÌM KIẾM THĂM DÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Vị trí địa lý

1.2. Lịch sử nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT, KIẾN TẠO VÀ ĐỊA TẦNG TRẦM TÍCH

3. CHƯƠNG 3: ĐỊA TẦNG PHÂN TẬP KHU VỰC LÔ 123 VÀ 124 BỂ PHÚ KHÁNH TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH BIẾN DẠNG VÀ CỘNG SINH TƯỚNG

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM TƯỚNG ĐÁ - CỔ ĐỊA LÝ QUA CÁC THỜI KỲ VÀ TRIỂN VỌNG HỆ THỐNG SINH - CHỨA - CHẮN KHU VỰC LÔ 123 VÀ 124 BỂ PHÚ KHÁNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tính đồng nhất đá cổ địa lý trầm tích Oligocen Miocen

Nghiên cứu tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý trầm tích Oligocen và Miocen khu vực bể Phú Khánh là một chủ đề quan trọng trong địa chất học. Khu vực này không chỉ có tiềm năng dầu khí lớn mà còn chứa đựng nhiều thông tin quý giá về lịch sử địa chất của vùng biển miền Trung Việt Nam. Việc phân tích các tướng đá cổ địa lý giúp hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển của các lớp trầm tích trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hoạt động kiến tạo. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố và tính chất của trầm tích trong khu vực.

1.1. Địa lý và lịch sử nghiên cứu bể Phú Khánh

Bể Phú Khánh nằm dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam, có vị trí địa lý quan trọng trong việc nghiên cứu địa chất. Lịch sử nghiên cứu tại đây bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ 20 với nhiều cuộc khảo sát địa chất và địa vật lý. Tuy nhiên, thông tin về trầm tích Oligocen và Miocen vẫn còn hạn chế, đòi hỏi cần có những nghiên cứu sâu hơn để làm rõ các đặc điểm địa chất của khu vực.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích mối quan hệ giữa địa tầng phân tập và cộng sinh tướng trong khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh. Ý nghĩa của nghiên cứu không chỉ nằm ở việc làm sáng tỏ tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý mà còn giúp xác định các bẫy chứa dầu khí tiềm năng, từ đó hỗ trợ cho công tác thăm dò và khai thác tài nguyên.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu trầm tích Oligocen Miocen

Mặc dù bể Phú Khánh có tiềm năng lớn, nhưng việc nghiên cứu trầm tích Oligocen và Miocen gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là thiếu hụt dữ liệu từ các giếng khoan, khiến cho việc phân tích và đánh giá tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý trở nên khó khăn. Hơn nữa, sự phức tạp của cấu trúc địa chất và các hiện tượng biến dạng cũng là một thách thức lớn trong việc hiểu rõ các tướng trầm tích.

2.1. Thiếu hụt dữ liệu và thông tin

Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ dựa vào các tài liệu địa vật lý mà không có sự hỗ trợ từ các giếng khoan. Điều này dẫn đến việc thiếu thông tin chính xác về cấu trúc và tính chất của trầm tích Oligocen và Miocen. Việc bổ sung dữ liệu từ các giếng khoan sẽ giúp cải thiện độ chính xác của các phân tích địa chất.

2.2. Phức tạp trong cấu trúc địa chất

Cấu trúc địa chất của bể Phú Khánh rất phức tạp với nhiều hiện tượng biến dạng khác nhau. Sự thay đổi mực nước biển và hoạt động kiến tạo đã tạo ra nhiều lớp trầm tích khác nhau, làm cho việc phân tích và đánh giá tính đồng nhất và phân dị trở nên khó khăn. Cần có các phương pháp nghiên cứu hiện đại để giải quyết vấn đề này.

III. Phương pháp nghiên cứu tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý

Để nghiên cứu tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý của trầm tích Oligocen và Miocen, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm phân tích địa chấn, địa tầng và thạch học, giúp xác định các tướng trầm tích và mối quan hệ giữa chúng. Việc sử dụng các công nghệ hiện đại trong phân tích dữ liệu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác của nghiên cứu.

3.1. Phân tích địa chấn và địa tầng

Phân tích địa chấn là một trong những phương pháp chính được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc địa chất của bể Phú Khánh. Các mặt cắt địa chấn giúp xác định các lớp trầm tích và mối quan hệ giữa chúng. Kết hợp với phân tích địa tầng, phương pháp này giúp làm rõ hơn về tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý.

3.2. Ứng dụng công nghệ hiện đại trong nghiên cứu

Việc áp dụng các công nghệ hiện đại như mô hình hóa 3D và phân tích dữ liệu lớn giúp nâng cao độ chính xác trong nghiên cứu. Các công nghệ này cho phép phân tích sâu hơn về các tướng trầm tích và mối quan hệ giữa chúng, từ đó đưa ra những kết luận chính xác hơn về tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý của trầm tích Oligocen và Miocen khu vực bể Phú Khánh đã chỉ ra nhiều thông tin quan trọng. Các tướng trầm tích được xác định rõ ràng, từ đó giúp đánh giá triển vọng hệ thống sinh - chứa - chắn. Kết quả này không chỉ có giá trị trong nghiên cứu khoa học mà còn hỗ trợ cho công tác thăm dò và khai thác dầu khí trong khu vực.

4.1. Đánh giá triển vọng hệ thống sinh chứa chắn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khu vực bể Phú Khánh có nhiều tiềm năng về hệ thống sinh - chứa - chắn. Các tướng trầm tích được xác định cho thấy khả năng hình thành các bẫy chứa dầu khí, từ đó mở ra cơ hội cho các hoạt động thăm dò và khai thác trong tương lai.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể được ứng dụng vào thực tiễn. Các thông tin về tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý sẽ hỗ trợ cho các công ty dầu khí trong việc lập kế hoạch thăm dò và khai thác, từ đó tối ưu hóa quy trình và giảm thiểu rủi ro.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý của trầm tích Oligocen và Miocen khu vực bể Phú Khánh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn. Triển vọng tương lai của nghiên cứu này không chỉ nằm ở việc làm rõ hơn về các tướng trầm tích mà còn mở ra cơ hội cho việc khai thác tài nguyên dầu khí trong khu vực.

5.1. Những kết quả đạt được và hạn chế

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra nhiều thông tin quý giá về tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế do thiếu hụt dữ liệu từ các giếng khoan. Cần có những nghiên cứu bổ sung để làm rõ hơn các vấn đề này.

5.2. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Triển vọng nghiên cứu trong tương lai sẽ tập trung vào việc áp dụng các công nghệ hiện đại và mở rộng phạm vi nghiên cứu. Việc thu thập thêm dữ liệu từ các giếng khoan sẽ giúp nâng cao độ chính xác và làm rõ hơn về các tướng trầm tích trong khu vực bể Phú Khánh.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu tính đồng nhất và phân dị tướng đá cổ địa lý của trầm tích oligocen miocen khu vực lô 123 và 124 bể phú khánh

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 78 trang, 36 hình, 2 bảng và đƣợc bố cục gồm 4 chƣơng chính sau: Chƣơng 1. Vị trí địa lý, lịch sử tìm kiếm thăm dò và phƣơng pháp nghiên cứu. Cấu trúc địa chất, kiến tạo và địa tầng trầm tích. Địa tầng phân tập khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh trên cơ sở phân tích biến dạng và cộng sinh tƣớng.

Đặc điểm tƣớng đá cổ địa lý qua các thời kỳ và triển vọng hệ thống sinh - chứa - chắn khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, LỊCH SỬ TÌM KIẾM THĂM DÒ VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý Bể Phú Khánh nằm dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam, giới hạn bởi vĩ tuyến 140 - 110 Bắc và kinh tuyến 109020' - 1110 Đông hoặc cũng có thể phát triển hơn về phía Đông.

Về phƣơng diện địa chất, bể Phú Khánh giáp giới với bể Cửu Long ở phía Nam, bể Nam Côn Sơn ở phía Đông Nam, bể Sông Hồng ở phía Bắc, bể Hoàng Sa ở phía Đông Bắc, thềm Đà Nẵng, thềm Phan Rang ở phía Tây và về phía Đông, nơi chƣa đƣợc nghiên cứu, có thể tồn tại một bể khác nằm giữa bể Phú Khánh và phần sâu nhất của Biển Đông. Địa hình đáy biển trong vùng rất phức tạp với mực nƣớc biển sâu từ 0-3000m[7]. Khu vực nghiên cứu của luận văn thuộc vùng biển Phú Yên và Khánh Hòa, nằm trên khu vực lô 123 và 124 trong phần phía tây bắc của bể Phú Khánh. Vị trí khu vực nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Lịch sử nghiên cứu Mặc dù bể Phú Khánh còn ít đƣợc nghiên cứu, song công tác nghiên cứu địa chất ở phần đất liền sát phía Tây bể Phú Khánh đƣợc các nhà địa chất Pháp nghiên cứu từ rất sớm trong công tác khảo sát lập bản đồ tỷ lệ 1:500. Điểm lộ dầu lần đầu tiên đƣợc phát hiện vào 1920-1923 tại Đầm Thị Nại (Qui Nhơn), phần đất liền kề với bể Phú Khánh.Năm 1944 các nhà địa chất Pháp đã khoan tìm kiếm ở đây nhƣng không còn tài liệu để lại. Từ 1944-1964, Saurin cũng đã nghiên cứu điểm lộ dầu ở Đầm Thị Nại và kết luận rằng nguồn dầu không phải từ Neogen mà có lẽ từ các lớp Sapropel giàu tảo (algae) ở vịnh Qui Nhơn cung cấp. Từ sau năm 1960 nhiều cuộc khảo sát của các nhà địa chất - địa vật lý Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, Trung Quốc đã đƣợc tiến hành trong các chƣơng trình nghiên cứu biển Đông.

Từ sau năm 1970, các công ty dầu khí nƣớc ngoài đã tiến hành các nghiên cứu địa chất- địa vật lý với mục đích tìm kiếm dầu khí sơ bộ dƣới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn cũ và từ 1979 đến nay các hoạt động nghiên cứu càng đƣợc tăng cƣờng dƣới sự quản lý của Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam và sau này là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Cho đến nay, ở vùng biển miền Trung thuộc khu vực bể Phú Khánh đã có nhiều khảo sát địa vật lý nhƣ GSI (Mỹ,1974), Malƣgin (Liên Xô, 1984), GECO-PRAKLA (1993), NOPEC (1993) với khối lƣợng khảo sát khoảng 17.000 Km tuyến địa vật lý. Các nghiên cứu trên phần đất liền đƣợc nhiều nhà địa chất tiến hành từ 1977 đến nay. Lê Nhƣ Lai, Nguyễn Quang Hinh (1977); Phan Huy Quynh (1980); Sladen, Nguyễn Quang Bô (1991); Trần Tĩnh (1988- 1997); Lê Thành (1998) đã phân tích các mẫu ở vùng Đầm Thị Nại và cho thấy loại dầu ở vết lộ tƣơng tự với dầu trong carbonat Miocen ở giếng khoan 119-CH-1X và cho rằng dầu lộ có thể có nguồn gốc từ phần sâu của bề Phú Khánh dịch chuyển lên qua các đứt gãy trong vùng.

Năm 2000 Viện Dầu khí hợp tác với Viện Địa chất Nhật Bản (JGI) nghiên cứu các vết lộ từ Nông Sơn đến Kon Tum, Sông Ba, Đầm Thị Nại. Năm 2002-2003 Phạm Quang Trung cùng các cộng sự ở Viện Dầu khí tiếp tục nghiên cứu các mẫu lộ dầu ở Đầm Thị Nại. Các kết luận của các tác giả này còn rất trái ngƣợc nhau nên vấn đề nguồn gốc dầu lộ, chất lƣợng nguồn đá mẹ còn chƣa đƣợc giải quyết và cần phải nghiên cứu tiếp[7]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong những năm 2001-2004, Viện Dầu khí đã chủ trì đề tài cấp nhà nƣớc KC-09-06 nghiên cứu về địa động lực và tiềm năng dầu khí các vùng nƣớc sâu, xa bờ, trong đó có khu vực bể Phú Khánh.

Cũng trong thời gian này, dự án ENRECA do Viện Dầu khí hợp tác với Cục Địa chất Đan Mạch và Greenland (GEUS) đã tiến hành nghiên cứu tổng thể địa chất và tiềm năng dầu khí bể Phú Khánh, trong đó có tập trung nghiên cứu sâu về địa hoá và trầm tích của khu vực Đầm Thị Nại và trũng Sông Ba, phần đất liền kề với bể Phú Khánh. Điểm nổi bật cần lƣu ý là tất cả những điều trình bày ở đây đều dựa trên kết quả giải thích địa chất các tài liệu địa vật lý là chủ yếu vì trong khu vực này chƣa có tài liệu về công trình khoan. Các giếng khoan dùng để liên kết với tài liệu địa vật lý đều nằm ở các bể trầm tích kế cận (Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn), vừa xa, vừa có cấu trúc địa chất khác biệt, lại bị phân cắt bởi các hệ thống đứt gãy, các đới nâng phức tạp nên độ chính xác còn chứa nhiều hạn chế. Phƣơng pháp nghiên cứu 1.

Phương pháp luận 1.Những nguyên lý cơ bản về địa tầng phân tập Nguyên lý về vận chuyển, phân dị và lắng đọng trầm tích trong mối quan hệ với năng lƣợng môi trƣờng và chuyển động kiến tạo đƣợc thể hiện qua thành phần độ hạt, thành phần khoáng vật, thành phần hóa học của vật liệu trầm tích, độ mài tròn hạt vụn, độ chọn lọc của đá, bề dày và cấu tạo bên trong của thể trầm tích. Trong giáo trình Trầm tích học, 2003 các tác giả đã trình bày nguyên lý vận chuyển và phân dị vật liệu vụn cơ học và sét trong môi trƣờng dòng chảy một chiều của sông, môi trƣờng ven bờ và môi trƣờng yên tĩnh (hồ, biển sâu). Các dạng cấu tạo của đá trầm tích cũng đã đƣợc mô tả khá tỉ mỉ. Tuy nhiên để có thể nhận thức đƣợc một cách tƣờng minh và đơn giản từ những khái niệm phức tạp và mô tả rất tản mạn của nhiều tác giả khác nhau về địa tầng phân tập tác giả sẽ áp dụng những nguyên lý trầm tích luận kinh điển nói trên vào trong mối quan hệ nhân quả với sự thay đổi mực nƣớc biển và chuyển động kiến tạo.

Hai yếu tố đó đóng vai trò là nguyên nhân còn thành phần thạch học, tƣớng trầm tích và quy luật sắp xếp của các đơn vị trầm tích theo thời gian và không gian là kết quả. Các mối quan hệ nhân quả đó đƣợc thể hiện hết sức đa dạng trong các điều kiện biên khác nhau. Tuy nhiên có thể khái quát thành một số điều kiện cụ thể điển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình và từ các điều kiện cơ bản đó cho phép suy luận ra toàn bộ bức tranh tiến hoá của bể trầm tích. Các điều kiện trầm tích tiêu biểu đại diện cho mối quan hệ nói trên là: a.

Năng lƣợng thuỷ động lực của môi trƣờng vận chuyển và lắng đọng trầm tích. Độ lớn bề dày trầm tích, sự biến thiên bề dày trầm tích. Cấu tạo bên trong và phƣơng thức sắp xếp của các đơn vị trầm tích theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Biến đổi thành phần độ hạt (phân dị cơ học) và thành phần thạch học của các thể trầm tích theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng.

Ranh giới liên tục hay gián đoạn giữa các thể trầm tích. Mức độ biến dạng thế nằm và cấu tạo của các thể trầm tích. Có thể coi các yếu tố trầm tích nói trên là những hàm số của các biến số nhƣ sự thay đổi mực nƣớc biển, năng lƣợng môi trƣờng, khối lƣợng trầm tích mang tới, sự chuyển động kiến tạo. Năng lượng thuỷ động lực của môi trường vận chuyển và lắng đọng trầm tích quyết định thành phần độ hạt của trầm tích vụn cơ học.

Môi trƣờng có năng lƣợng lớn thì độ hạt càng thô. Ví dụ, dòng chảy sông miền núi và sông miền trung du đặc trƣng là chảy rối vì vậy vật liệu lắng đọng tƣơng ứng là cuội tảng và sạn lẫn cát hạt thô. Dòng chảy sông đồng bằng đặc trƣng là chảy tầng và xa nguồn. Vật liệu lắng đọng chủ yếu là cát.

Dòng chảy ở môi trƣờng cửa sông châu thổ là dạng xen giữa dòng sông đổ ra biển và dòng triều từ biển chảy vào sông. Vì vậy, trầm tích cũng có sự xen kẽ giữa cát bột và sét. Ở bờ biển hiện đại cũng nhƣ các đới đƣờng bờ cổ nằm ở các độ sâu lớn 30m, 60m, 120m.thƣờng gặp các dải trầm tích hạt thô nhƣ cuội, sạn và cát. Điều đó chứng tỏ năng lƣợng sóng vỗ ven bờ đã quyết định kích thƣớc hạt thô của trầm tích bãi triều.

Tuy nhiên dù năng lƣợng mạnh hay yếu thì sự lắng đọng trầm tích luôn luôn tuân theo nguyên lý phân dị về độ hạt: càng gần nguồn xâm thực độ hạt càng thô, càng xa nguồn độ hạt càng giảm. Vì vậy, dù trong điều kiện mực nƣớc biển dâng cao hay hạ thấp cũng xảy ra lắng đọng trầm tích đồng thời và đều phân dị độ hạt giảm theo hƣớng nằm ngang từ nguồn cung cấp vật liệu ra hƣớng trung tâm của bể trầm tích. Nhƣ vậy sẽ không bao giờ có thành phần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ hạt bằng nhau và bề dày trầm tích giống nhau đối với cùng một lớp hay một thể trầm tích lắng đọng ở một địa hình dốc ven bờ. Trầm tích ở chân dốc nghèo hơn và mịn hơn nên gá đáy (down lap) một cách thoai thoải và mềm mại theo phƣơng thức „tiếp tuyến‟ với bề mặt đáy chứ không tạo thành một đƣờng thẳng cắt bề mặt đáy nhƣ một số tác giả quan niệm và gọi là "chống đáy" (hình 1.

Các nhịp độ hạt phân dị theo chiều ngang và chiều thẳng đứng (Theo Trần Nghi, 2010) b. Sự biến thiên bề dày trầm tích: Bề dày trầm tích là hàm số của chuyển động kiến tạo, khối lƣợng vật liệu cung cấp, thành phần độ hạt trầm tích và độ sâu đáy biển. Khi phát hiện thấy bề dày trầm tích lớn là khẳng định do sụt lún kiến tạo mạnh. Ngƣợc lại bề dày trầm tích mỏng là dấu hiệu của quá trình chuyển động nâng cao hoặc thiếu hụt vật liệu trầm tích mang tới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ