Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang tác động sâu sắc đến sinh kế của hơn 70% dân số nông thôn Việt Nam, đặc biệt là các cộng đồng miền núi có điều kiện kinh tế khó khăn. Xã Tây Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình là địa bàn miền núi đặc trưng với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 29% vào năm 2011 trên tổng số 1.206 hộ dân (5.204 nhân khẩu). Toàn bộ diện tích tự nhiên của xã là 2.246 ha nhưng đất nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 12% (tương đương 252,3 ha), địa hình chủ yếu là đồi dốc và núi đá vôi khiến nguồn tài nguyên đất và nước vô cùng nhạy cảm trước các cú sốc khí hậu.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự gia tăng đột biến của các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán kéo dài, rét đậm rét hại và mưa lũ bất thường, trực tiếp đe dọa đến hệ thống canh tác nông nghiệp. Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: đánh giá thực trạng các hiện tượng khí hậu cực đoan trong chuỗi thời gian 26 năm (1985 - 2011); phân tích mức độ tổn thương của 5 nguồn vốn sinh kế ở nhóm hộ nghèo; và xây dựng hệ thống giải pháp thích ứng dựa vào cộng đồng nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai, nâng mức thu nhập bình quân từ 9,5 triệu đồng/người/năm lên mức bền vững hơn.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa tại 10 xóm của xã Tây Phong từ tháng 04/2011 đến tháng 12/2011, kết hợp chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn trạm Hòa Bình từ năm 1985. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc lượng hóa mối liên hệ giữa các đợt hạn hán làm suy giảm trên 60% diện tích đất lúa nước với tỷ lệ 100% hộ nghèo rơi vào cảnh thiếu đói mùa vụ, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó biến đổi khí hậu tại vùng Tây Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hai nền tảng lý thuyết chủ đạo trong phân tích môi trường và phát triển: Phương pháp phân tích tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng dựa vào cộng đồng (CVCA) do Tổ chức CARE International ban hành năm 2010, kết hợp với Khung sinh kế bền vững (SLF) của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2001). Khung SLF tiếp cận toàn diện 5 nguồn vốn sinh kế: Vốn con người (trình độ học vấn, sức khỏe), Vốn tự nhiên (đất đai 252,3 ha, nguồn nước từ 20 khe suối), Vốn tài chính (thu nhập bình quân 9,5 triệu đồng/người/năm, khả năng tiếp cận tín dụng), Vốn vật chất (nhà ở, bai đập thủy lợi), và Vốn xã hội (mạng lưới họ hàng, hội đoàn nông dân).

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa dựa trên định nghĩa của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008):

  • Biến đổi khí hậu: Sự biến đổi trạng thái khí hậu so với giá trị trung bình duy trì trong nhiều thập kỷ do tương tác tự nhiên và hoạt động nhân sinh.
  • Hiện tượng khí hậu cực đoan: Các giá trị khí hậu đạt ngưỡng phân bố thống kê hiếm gặp (tần suất dưới 10%), xuất hiện với cường độ bất thường gây tổn thất nghiêm trọng.
  • Tính dễ bị tổn thương: Mức độ mà một hệ thống tự nhiên - xã hội dễ chịu tổn hại và không có khả năng chống chịu trước tác động bất lợi của khí hậu.
  • Năng lực thích ứng: Toàn bộ tiềm lực điều chỉnh của cộng đồng nhằm giảm nhẹ rủi ro và tận dụng các cơ hội từ bối cảnh khí hậu biến đổi.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ chuỗi số liệu quan trắc khí tượng 26 năm (1985 - 2011) của Trạm Khí tượng Thủy văn thành phố Hòa Bình (cách xã Tây Phong 23 km về phía Đông Bắc), hệ thống báo cáo phát triển kinh tế - xã hội và phòng chống lụt bão của UBND huyện Cao Phong và xã Tây Phong giai đoạn 2004 - 2011.

Quy trình chọn mẫu khảo sát thực địa được thiết kế khoa học với cỡ mẫu 90 hộ nghèo, tương đương 30% tổng số hộ nghèo toàn xã. Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng trên 3 vùng sinh thái đại diện: vùng núi cao sát dãy núi đá vôi (xóm Chao, Khạ, Đồi), vùng bán sơn địa và vùng thung lũng bằng phẳng (xóm Bảm, Tây Sơn). Tiêu chí lựa chọn bảo đảm ít nhất 30% đối tượng tham gia phỏng vấn trên 45 tuổi để nắm bắt chính xác lịch sử thiên tai địa phương. Ngoài ra, nghiên cứu phỏng vấn sâu 16 cán bộ chủ chốt gồm Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cao Phong, 5 cán bộ lãnh đạo xã và 10 trưởng xóm.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp công cụ Biểu đồ lịch sử thiên tai, Lịch thời vụ, Ma trận xếp hạng tác động và Phân tích SWOT là nhằm tích hợp tri thức bản địa với số liệu định lượng, giúp nhận diện chính xác các mắt xích yếu nhất trong chuỗi sinh kế của hộ nghèo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, xu thế ấm lên toàn cầu và tính bất thường của thời tiết thể hiện rất rõ qua số liệu quan trắc 26 năm tại khu vực. Nhiệt độ trung bình năm có xu hướng gia tăng tuyến tính với biên độ biến thiên từ 22,5°C lên 24,5°C. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối đạt mức 41,8°C vào ngày 19/6/2010, trong khi nhiệt độ thấp nhất từng giảm sâu xuống 4,0°C vào ngày 23/12/1999. Đáng chú ý, các đợt rét đậm dưới 10°C xuất hiện tại 24/26 năm quan sát và có xu hướng kéo dài hơn trong giai đoạn từ năm 2000 trở lại đây. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.817,7 mm nhưng phân bố mất cân đối nghiêm trọng: mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau có số tháng ghi nhận lượng mưa dưới 150 mm tăng nhanh, đẩy tần suất hạn hán nghiêm trọng lên 12 đợt/26 năm (trong đó 5 năm gần nhất ghi nhận tới 4 đợt hạn hán lớn, chiếm 41% tổng số đợt hạn).

Thứ hai, hạn hán kéo dài và tình trạng thiếu nước tưới đã gây ra sự chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp mang tính chất đối phó rủi ro. Diện tích đất trồng lúa nước giảm mạnh từ 157,3 ha năm 2004 xuống chỉ còn 56,7 ha năm 2007 (giảm 63,9%) và chạm đáy 41,2 ha vào năm 2009. Ngược lại, diện tích đất trồng mía tăng vọt từ 43,0 ha năm 2004 lên 250,5 ha năm 2007 và đạt mức 300 ha ổn định từ năm 2009 đến 2011 do người dân chủ động chuyển đổi đất ruộng thiếu nước sang loại cây trồng chịu hạn tốt hơn.

Thứ ba, cơ cấu sinh kế của nhóm hộ nghèo phụ thuộc gần như tuyệt đối vào sản xuất trồng trọt (chiếm 85% tổng thu nhập, trong đó cây mía chiếm 50%, cây lúa chiếm 25%, ngô sắn chiếm 10%). Chăn nuôi chỉ đóng góp 10% thu nhập và tiền làm thuê chiếm 5%. Khi các hiện tượng cực đoan xảy ra, tổn thất kinh tế là vô cùng nặng nề: đợt rét đậm năm 2008 làm chết 37 con trâu bò và 50 ha lúa bị rầy hại; năm 2009 hạn hán làm 50 ha trên tổng số 56 ha lúa giảm 30% năng suất. Toàn bộ 90 hộ nghèo khảo sát (100%) đều trải qua tình trạng thiếu đói lương thực từ 3 đến 6 tháng mỗi khi thời tiết cực đoan tàn phá mùa màng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến xã Tây Phong có tính dễ bị tổn thương cao bắt nguồn từ điều kiện địa hình chia cắt mạnh và hạ tầng thủy lợi xuống cấp. Toàn xã phụ thuộc vào nguồn nước của 20 khe suối tự nhiên nhỏ và dòng suối Bảm. Khi lượng mưa mùa khô suy giảm, lưu lượng các khe suối cạn kiệt khiến ruộng bậc thang mất nước nhanh chóng. Việc người dân ồ ạt mở rộng diện tích trồng mía lên 300 ha tuy mang lại giá trị trước mắt nhưng lại tiềm ẩn rủi ro lớn do mía là cây trồng đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu cao, làm suy thoái độ phì nhiêu của đất và dễ bị thiệt hại nặng khi gặp rét đậm kéo dài (điển hình như năm 1986 mía mất trắng 50% diện tích, năm 2006 chết rét 20% diện tích).

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các công bố của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2011) về xu thế gia tăng nhiệt độ trung bình 1,1°C tại tỉnh Hòa Bình trong 38 năm qua. Mô hình chuỗi dữ liệu trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua đồ thị đường hồi quy tuyến tính của nhiệt độ và lượng mưa theo thời gian, kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu 5 cấp độ thiệt hại của các loại hình thiên tai. Các biểu đồ này minh chứng rõ ràng rằng rủi ro khí hậu không còn là hiện tượng ngẫu nhiên mà đã trở thành xu thế định hình lại toàn bộ phương thức sản xuất của cư dân vùng núi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm củng cố năng lực thích ứng và bảo vệ sinh kế cho cộng đồng xã Tây Phong, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Nâng cấp và kiên cố hóa mạng lưới thủy lợi nội đồng: Chính quyền địa phương cần ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư nạo vét, xây mới các bai đập kiên cố dọc theo suối Bảm và 20 khe suối tự nhiên. Mục tiêu cụ thể là đảm bảo chủ động cung cấp nguồn nước tưới ổn định cho 100% diện tích đất lúa 56,9 ha và hỗ trợ tưới ẩm cho 300 ha mía trong các tháng hạn cao điểm. Timeline thực hiện: giai đoạn 2012 - 2015. Chủ thể chịu trách nhiệm: UBND huyện Cao Phong phối hợp cùng UBND xã Tây Phong và cộng đồng dân cư các xóm.

  2. Chuyển đổi cơ cấu giống và điều chỉnh lịch thời vụ linh hoạt: Trạm Khuyến nông cần chuyển giao các giống lúa thuần ngắn ngày chịu hạn, giống ngô lai năng suất cao trên đất dốc; hạn chế việc mở rộng diện tích mía quá mức 300 ha để tránh thoái hóa đất. Áp dụng kỹ thuật che phủ màng nilon bảo vệ 100% diện tích mạ vụ xuân nhằm giảm thiểu tỷ lệ mạ chết rét xuống dưới 5% trong các đợt nhiệt độ dưới 10°C. Timeline thực hiện: thường niên từ năm 2012. Chủ thể thực hiện: Cán bộ khuyến nông xã và các hộ nông dân.

  3. Triển khai mô hình chăn nuôi gia súc an toàn sinh học thích ứng rét đậm: Vận động các hộ gia đình kiên cố hóa chuồng trại có bạt che chắn gió bấc, chủ động trồng cỏ voi và ủ chua thức ăn dự trữ cho gia súc trong mùa đông. Đặt mục tiêu giảm tỷ lệ trâu bò chết rét từ mức 37 - 40 con/năm xuống 0 con/năm. Timeline thực hiện: quý 3 hàng năm. Chủ thể thực hiện: Hội Nông dân xã phối hợp cùng Trạm Thú y huyện Cao Phong.

  4. Thiết lập quỹ tín dụng vi mô và nâng cao năng lực quản trị rủi ro thiên tai: Ngân hàng Chính sách Xã hội cần mở rộng hạn mức vay vốn ưu đãi cho 100% hộ nghèo với lãi suất hỗ trợ để tái thiết sản xuất sau thiên tai. Tổ chức 10 khóa tập huấn cộng đồng mỗi năm nhằm trang bị kỹ năng dự báo thời tiết bản địa và cứu hộ thiên tai cho 100% trưởng xóm và đại diện hộ dân. Timeline thực hiện: 2012 - 2014. Chủ thể thực hiện: Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai huyện Cao Phong và các tổ chức đoàn thể xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo UBND các cấp, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cao Phong và tỉnh Hòa Bình có thể sử dụng các số liệu thực chứng của luận văn làm luận cứ xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2015 - 2020.

  2. Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Môi trường: Các nhà nghiên cứu về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu có thể kế thừa khung phương pháp luận kết hợp giữa công cụ CVCA của CARE và khung SLF của DFID để triển khai các đề tài đánh giá tính dễ bị tổn thương cấp xã tại các địa bàn miền núi phía Bắc.

  3. Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế: Các chuyên gia dự án phát triển sinh kế cộng đồng (như Oxfam, CARE, UNDP) có thể ứng dụng kết quả khảo sát 90 hộ nghèo để thiết kế các can thiệp hỗ trợ kỹ thuật, tài chính vi mô và mô hình nông nghiệp thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA) đạt hiệu quả cao.

  4. Cán bộ khuyến nông và hợp tác xã nông nghiệp: Đội ngũ cán bộ kỹ thuật cơ sở có thể khai thác các phân tích về lịch thời vụ và mức độ nhạy cảm nhiệt độ của cây mía, cây lúa để hướng dẫn bà con nông dân xây dựng lịch gieo cấy an toàn trước các đợt rét hại và hạn hán.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao xã Tây Phong lại có mức độ tổn thương sinh kế cao trước biến đổi khí hậu? Xã có tỷ lệ hộ nghèo cao (29% năm 2011), diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 12% tổng diện tích tự nhiên và 85% thu nhập của hộ nghèo phụ thuộc vào trồng trọt. Địa hình núi đá dốc khiến nguồn nước giữ lại rất kém, hệ thống thủy lợi còn đơn sơ nên cộng đồng thiếu khả năng tự phục hồi trước các đợt thiên tai liên tiếp.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến diện tích trồng lúa tại địa phương? Hạn hán kéo dài và lượng mưa suy giảm trong mùa khô đã làm diện tích đất lúa nước tại Tây Phong giảm mạnh từ 157,3 ha năm 2004 xuống còn 56,7 ha năm 2007 (giảm trên 63%). Nhiều chân ruộng bậc thang hoàn toàn không đủ nước cấy, buộc người dân phải bỏ hoang hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Nguyên nhân nào khiến người dân chuyển dịch ồ ạt sang trồng mía bất chấp rủi ro thiên tai? Cây mía có khả năng chịu hạn tốt hơn cây lúa trên đất dồi dốc và mang lại giá trị thương phẩm cao hơn trong giai đoạn 2004 - 2007. Diện tích mía đã tăng từ 43 ha lên 300 ha. Tuy nhiên, cây mía đòi hỏi chi phí đầu tư lớn và rất nhạy cảm với rét đậm, từng bị chết rét tới 20% diện tích vào năm 2006.

Những rào cản lớn nhất của hộ nghèo trong việc nâng cao năng lực thích ứng là gì? Rào cản lớn nhất là sự thiếu hụt vốn tài chính và vốn vật chất. Thu nhập bình quân chỉ đạt 9,5 triệu đồng/người/năm, chuồng trại chăn nuôi tạm bợ không đủ giữ ấm cho gia súc khi nhiệt độ xuống dưới 10°C, đồng thời các hộ nghèo không có nguồn vốn dự trữ để mua giống hoặc vật tư chống rét cho cây trồng.

Phương pháp kết hợp CVCA và SLF mang lại ưu thế gì vượt trội cho nghiên cứu? Sự kết hợp này giúp đánh giá đa chiều cả về mặt khoa học khí hậu lẫn tác động thực tế lên 5 nguồn vốn sinh kế ở cấp hộ gia đình. Thay vì áp đặt mô hình từ trên xuống, phương pháp thu hút sự tham gia trực tiếp của 90 hộ dân và 16 cán bộ, giúp giải pháp thích ứng sát với thực tế địa phương.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập chuỗi số liệu 26 năm (1985 - 2011) chứng minh nhiệt độ trung bình tại khu vực tăng tuyến tính từ 22,5°C lên 24,5°C, biên độ nhiệt cực đoan từ 4,0°C đến 41,8°C và hạn hán xuất hiện với tần suất cao (12 đợt lớn).
  • Lượng hóa tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu làm suy giảm 63,9% diện tích đất trồng lúa nước (từ 157,3 ha xuống 56,7 ha) và thúc đẩy diện tích trồng mía tăng nhanh lên 300 ha.
  • Xác định mức độ dễ bị tổn thương nghiêm trọng của 90 hộ nghèo khảo sát khi 85% nguồn thu dựa vào trồng trọt và 100% số hộ đối mặt với 3 - 6 tháng thiếu đói khi thiên tai xảy ra.
  • Ứng dụng thành công khung phân tích tích hợp CVCA và SLF, khẳng định tính tất yếu của việc lồng ghép tri thức bản địa vào chiến lược thích ứng khí hậu.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi bao gồm kiên cố hóa thủy lợi khe suối, cơ cấu lại giống cây trồng chịu hạn, chống rét cho vật nuôi và mở rộng quỹ tín dụng vi mô cho giai đoạn 2012 - 2015.

Đóng góp khoa học lớn nhất của công trình là cung cấp bức tranh định lượng chân thực về tính dễ bị tổn thương sinh kế cấp cơ sở tại vùng núi Tây Bắc, làm cầu nối giữa nghiên cứu học thuật và thực tiễn phát triển bền vững. Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung vào việc hiện thực hóa các mô hình canh tác nông nghiệp thông minh thích ứng với khí hậu (CSA) tại các xóm vùng cao. Hãy liên hệ ngay với các đơn vị chuyển giao khoa học kỹ thuật và cơ quan khuyến nông để cùng chung tay nhân rộng các giải pháp sinh kế bền vững cho cộng đồng vùng cao!