Nguyễn thị thùy trinh nghiên cứu đặc điểm thực vật thành phần hóa học và hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu cây quế trèn cinnamomum burmanni nees t nees blume họ long não lauraceae khóa luận tốt nghiệp dư

Luận văn tốt nghiệp hóa học nghiên cứu Nguyễn thị thùy trinh nghiên cứu đặc điểm thực vật thành phần hóa học và hoạt tính kháng vi sinh, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

2022

58
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tổng quan về chi Quế (Cinnamomum Schaeff.

1.2. Đặc điểm thực vật và phân bố chi Cinnamomum Schaeff.

1.3. Phân loại chi Cinnamomum Schaeff.

1.4. Thành phần hóa học chi Long não (Cinnamomum Schaeff.

1.5. Phân bố, thành phần hóa học tinh dầu, và giá trị sử dụng của Cinnamomum burmanni (Nees & T.

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phương tiện nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Phương tiện nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Nghiên cứu đặc điểm thực vật

2.6. Nghiên cứu thành phần hóa học

2.7. Phương pháp nghiên cứu

2.7.1. Phương pháp nghiên cứu cảm quan

2.7.2. Phương pháp giám định tên khoa học

2.7.3. Phương pháp nghiên cứu hiển vi

2.7.4. Phương pháp hóa học

2.7.5. Phương pháp sắc ký lớp mỏng

2.7.6. Phương pháp xác định hàm lượng tinh dầu trong dược liệu

2.7.7. Phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ

2.8. Thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ, BÀN LUẬN

3.1. Nghiên cứu về thực vật

3.1.1. Đặc điểm thực vật

3.1.2. So sánh đặc điểm thực vật của mẫu nghiên cứu với Cinnamomum burmanni (Nees & T.Nees) Blume trong các tài liệu

3.1.3. Nghiên cứu đặc điểm về vi học vi phẫu dược liệu

3.1.3.1. Đặc điểm vi phẫu lá
3.1.3.2. Đặc điểm vi phẫu cành

3.1.4. Nghiên cứu về đặc điểm vi học bột dược liệu

3.1.4.1. Đặc điểm bột lá
3.1.4.2. Đặc điểm bột cành

3.2. Định tính hóa học

3.3. Xác định hàm lượng tinh dầu trong các bộ phận của cây Quế trèn

3.4. Sắc ký lớp mỏng tinh dầu các bộ phận của cây Quế trèn

3.5. Sắc ký khí kết hợp khối phổ tinh dầu

3.6. Đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của tinh dầu

3.6.1. Về thực vật

3.6.2. Về thành phần hóa học

3.6.3. Về hoạt tính kháng vi sinh vật

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tinh dầu cây quế trèn Đặc điểm và giá trị

Chi quế (Cinnamomum Schaeff.) có khoảng 250 loài, phân bố rộng rãi từ châu Á đến Đông Nam Á và Australia. Tại Việt Nam, có khoảng 40 loài quế, trong đó tinh dầu cây quế trèn (Cinnamomum burmanni) được biết đến với nhiều công dụng trong y học cổ truyền. Tinh dầu này không chỉ có mùi thơm mà còn chứa nhiều thành phần hóa học có giá trị. Nghiên cứu về tinh dầu cây quế trèn giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và hoạt tính kháng vi sinh vật của nó.

1.1. Đặc điểm thực vật của cây quế trèn và phân bố

Cây quế trèn là cây gỗ nhỏ hoặc lớn, có vỏ nhẵn hoặc nứt dọc, màu nâu xám. Lá cây mọc đối, có mùi thơm đặc trưng. Cây phân bố rộng rãi ở nhiều tỉnh thành Việt Nam như Hà Nội, Ninh Bình, và Nghệ An. Việc nghiên cứu đặc điểm thực vật giúp xác định tên khoa học và phân loại chính xác cho cây.

1.2. Giá trị sử dụng của tinh dầu cây quế trèn trong y học

Tinh dầu cây quế trèn được sử dụng trong nhiều bài thuốc cổ truyền để điều trị các bệnh như viêm phế quản, đau cơ, và tiêu chảy. Nghiên cứu cho thấy tinh dầu cây quế trèn có khả năng kháng khuẩn và chống viêm, mở ra tiềm năng ứng dụng trong y học hiện đại.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu tinh dầu cây quế trèn

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về tinh dầu cây quế trèn, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Thiếu thông tin về thành phần hóa học và hoạt tính kháng vi sinh vật của các bộ phận khác nhau của cây quế trèn là một thách thức lớn. Việc nghiên cứu sâu hơn sẽ giúp làm rõ những vấn đề này.

2.1. Thiếu thông tin về thành phần hóa học của tinh dầu

Nhiều nghiên cứu hiện tại chỉ tập trung vào thành phần hóa học của vỏ cây mà chưa khai thác đầy đủ các bộ phận khác như lá và cành. Điều này dẫn đến việc chưa có cái nhìn toàn diện về thành phần hóa học tinh dầu quế trèn.

2.2. Khó khăn trong việc xác định hoạt tính kháng vi sinh vật

Mặc dù có một số nghiên cứu cho thấy tinh dầu cây quế trèn có hoạt tính kháng vi sinh vật, nhưng việc kiểm định và so sánh với các loài khác vẫn còn hạn chế. Cần có thêm các thử nghiệm lâm sàng để khẳng định hiệu quả của tinh dầu này.

III. Phương pháp nghiên cứu chính trong phân tích tinh dầu cây quế trèn

Để nghiên cứu tinh dầu cây quế trèn, các phương pháp như sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC-MS) và sắc ký lớp mỏng (TLC) được sử dụng để xác định thành phần hóa học. Các phương pháp này giúp phân tích chính xác các hợp chất có trong tinh dầu và đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật.

3.1. Phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ GC MS

Phương pháp GC-MS cho phép phân tích thành phần hóa học của tinh dầu cây quế trèn một cách chi tiết. Kết quả từ phương pháp này giúp xác định các hợp chất chính như cinnamaldehyd và eugenol, từ đó đánh giá giá trị dược lý của tinh dầu.

3.2. Phương pháp sắc ký lớp mỏng TLC

Sắc ký lớp mỏng là phương pháp đơn giản và hiệu quả để định tính các nhóm chất trong tinh dầu cây quế trèn. Phương pháp này giúp phát hiện các hợp chất phenolic và flavonoid, có vai trò quan trọng trong hoạt tính sinh học của tinh dầu.

IV. Kết quả nghiên cứu về hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu cây quế trèn

Nghiên cứu cho thấy tinh dầu cây quế trèn có hoạt tính kháng vi sinh vật mạnh mẽ, đặc biệt là đối với các vi khuẩn như Staphylococcus aureus và Escherichia coli. Kết quả này mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng tinh dầu trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn.

4.1. Hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu đối với Staphylococcus aureus

Nghiên cứu cho thấy tinh dầu cây quế trèn có khả năng ức chế sự phát triển của Staphylococcus aureus, một trong những tác nhân gây nhiễm khuẩn phổ biến. Điều này chứng tỏ tiềm năng ứng dụng của tinh dầu trong y học.

4.2. Hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu đối với Escherichia coli

Tinh dầu cây quế trèn cũng cho thấy hiệu quả kháng vi sinh vật đối với Escherichia coli. Kết quả này khẳng định giá trị của tinh dầu cây quế trèn trong việc phát triển các sản phẩm kháng khuẩn tự nhiên.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu tinh dầu cây quế trèn

Nghiên cứu về tinh dầu cây quế trèn đã chỉ ra nhiều tiềm năng trong việc ứng dụng trong y học và công nghiệp. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ hơn về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nó. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị cho sức khỏe cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Việc nghiên cứu sâu hơn về tinh dầu cây quế trèn sẽ giúp phát hiện thêm nhiều ứng dụng mới trong y học và công nghiệp thực phẩm. Điều này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

5.2. Hướng đi mới trong phát triển sản phẩm từ tinh dầu

Các sản phẩm từ tinh dầu cây quế trèn có thể được phát triển để phục vụ nhu cầu thị trường, từ thực phẩm chức năng đến mỹ phẩm tự nhiên. Nghiên cứu và phát triển sản phẩm từ tinh dầu sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành công nghiệp dược liệu.

14/08/2025
Nguyễn thị thùy trinh nghiên cứu đặc điểm thực vật thành phần hóa học và hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu cây quế trèn cinnamomum burmanni nees t nees blume họ long não lauraceae khóa luận tốt nghiệp dư

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Chi quế (Cinnamomum Schaeff.) có tới 250 loài, phân bố ở các vùng đại lục châu Á đến khắp vùng Đông Nam Á, Australia và khu vực Tây Thái Bình Dương. Tại miền Nam châu Mỹ chỉ có một số ít loài, nhưng riêng Malesian đã phát hiện được khoảng 90 loài [13]. Trong đó Việt Nam có khoảng 40 loài [11]. được biết đến là một trong các chi có giá trị kinh tế cao nhất trong họ Long não (Lauraceae).

Từ xưa các loài trong chi Quế đã được dùng để làm gia vị, đồ uống, thức ăn, và thuốc chữa bệnh. Tinh dầu của các loài thuộc chi Quế thường có mùi thơm và giá trị của tinh dầu mang lại rất cao. Công dụng cổ truyền của các loài thuộc chi Quế được kể đến như trị phong thấp, bong gân, viêm phế quản, hen suyễn, ăn không tiêu, đau cơ, tiêu chảy, rối loạn kinh nguyệt, cảm lạnh, ớn lạnh [17]. Các nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy các loài thuộc chi quế có nhiều tác dụng sinh học như kháng khuẩn, chống oxi hóa, chống viêm giảm đau, chống bệnh tiểu đường và béo phì, chống các khối u và điều hòa miễn dịch, bảo vệ tim mạch, tế bào, bảo vệ thần kinh, diệt côn trùng, và một số tác dụng dược lý khác [17].

Vỏ và tinh dầu Quế trèn là sản phẩm hàng hóa có giá trị [1]. Hiện nay có một số nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu vỏ cây Quế trèn-Cinnamomum burmanni (Nees & T. Tinh dầu vỏ Quế trèn cũng có tác dụng kháng vi sinh vật rất tốt đối với Staphylococcus aureus và Escherichia coli [18]. Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn chưa có công bố về thành phần hóa học của tinh dầu lá và cành của cây Quế trèn, cũng như tác dụng, ứng dụng liên quan tới các tinh dầu.

Như vậy, việc nghiên cứu các loài của chi Cinnamomum Schaeff. hay cụ thể là loài Quế trèn-Cinnamomum burmanni (Nees & T.Nees) Blume là việc rất quan trọng và cần thiết. Vì vậy khóa luận “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu cây Quế trèn (Cinnamomum burmanni (Nees & T.Nees) Blume), họ Long não (Lauraceae)" thực hiện với mục đích giám định tên khoa học, xác định thành phần hóa học, và xác định hoạt tính kháng vi sinh vật của loài, từ đó làm cơ sở cho nghiên cứu phát triển và xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm dược liệu sau này. Khóa luận gồm 3 mục tiêu:  Xác định đặc điểm hình thái, giám định tên khoa học, đặc điểm vi phẫu, đặc điểm bột lá và cành của mẫu nghiên cứu.

 Định tính sơ bộ các nhóm chất hữu cơ trong mẫu nghiên cứu thông qua các phản ứng hóa học.  Xác định hàm lượng tinh dầu trong lá, cành của mẫu nghiên cứu bằng phương pháp cất kéo hơi nước; thành phần cấu tử trong tinh dầu bằng sắc ký khí kết hợp khối phổ; hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu. Tổng quan về chi Quế (Cinnamomum Schaeff. Đặc điểm thực vật và phân bố chi Cinnamomum Schaeff.

Đặc điểm hình thái thực vật của chi Cinnamomum Schaeff. Cây dạng bụi, gỗ nhỏ hoặc lớn, đoạn thân thường không có cành. Vỏ cây thường nhẵn hoặc nứt dọc, màu nâu xám hay nâu đỏ nhạt, toàn thân thường có dầu hoặc mùi thơm theo mức độ khác nhau. Lá thường mọc gần như đối, mọc cách hoặc vừa đối vừa cách hay sắp xếp kiểu xoắn ốc.

Phiến lá đơn, nguyên, trên lá có những chấm hay những tuyến chứa tinh dầu; thường có 3 gân chính, rất ít khi dạng lông chim, không có lá kèm. Cụm hoa hình chùm, hình chùy hoặc gần dạng tán, mọc ở nách lá hay đầu cành. Hoa lưỡng tính, rất ít khi đơn tính, mẫu 3, lá đài 6 dính nhau tạo thành ống ở phía dưới, thường có lông mịn; nhị hữu thụ 9, ít khi 6, thường xếp theo 3 vòng, bao phấn 4 ô, ít khi 2; bầu trên không có cuống, 1 ô, noãn ngược; nhụy mảnh. Quả hình cầu, hình trứng hay dạng trụ, 1 hạt; đế quả có các thùy bao hoa tồn tại và dày lên bao quanh.

Phân bố chi Cinnamomum Schaeff. ở Việt Nam Ở nước ta, số loài thuộc chi Long não rất phong phú và đa dạng. Năm 1991, Phạm Hoàng Hộ đã mô tả tóm tắt cho 40 loài, năm 2003 tăng thêm 3 loài nâng tổng số là 43 loài và có hình vẽ minh họa. Nguyễn Kim Đào (1994) đã thống kê được 42 loài, năm 2003 thống kê được thêm 2 loài và một thứ (forma) nâng tổng số loài thống kê được lên 44 loài và 1 thứ (chiếm 17,6% tổng số loài của chi Long não trên toàn thế giới và bằng 48,9% số loài ở khu vực Malesian) [14].

Chi Long não phân bố từ vùng đại lục châu Á đến khắp vùng Đông Nam Á, Australia và khu vực Tây Thái Bình Dương. Tại miền Nam châu Mỹ chỉ có một số ít loài, nhưng riêng khu vực Malesian đã phát hiện được khoảng 90 loài theo cuốn Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam 2001 của Lã Đình Mỡi [13]. Phân loại chi Cinnamomum Schaeff. ở Việt Nam Trước đây, ở nước ta có một số tác giả đã nghiên cứu về họ Long não, tuy nhiên hầu hết những nghiên cứu đó chỉ chủ yếu là mô tả về các loài mà chưa tổng hợp, phân loại khóa tra cho từng loài.

Vào năm 2016, luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp “Nghiên cứu phân loại chi Long não (Cinnamomum Schaeff.) tại Việt Nam” đã đưa ra Khóa tra cho 22 loài trong chi Long não ở Việt Nam đã góp phần vào ciệc nghiên cứu phân loại thực vật Việt Nam nói chung và chi Long não nói riêng. Khóa tra cho một số loài trong chi Long não (Cinnamomum Schaeff. Lá mọc cách; gân lông chim hay gần như có 3 gân gốc, có điểm tuyến ở gân chính; thùy bao hoa sớm rụng ở quả. Phiến lá gần như 3 gân gốc …………………………………….

Phiến lá gân lông chim. Cuống lá dài hơn 2 cm……………………………………. Cuống lá ngắn hơn 2 cm…………………………………. Cụm hoa chùy, nhẵn.

Quả hình bầu dục; gân bên 3 – 5 đôi. Cụm hoa hình chùy, có lông. Quả hình cầu; gân bên 5 – 7 đôi…………………………C. Gân chính phẳng ở mặt trên, lồi ở mặt dưới; quả hình cầu, đường kính 8 – 10 mm………………………………………………………C.

Gân chính lồi ở cả hai mặt; quả hình trứng, trứng ngược hay nón ngược, hiếm khi hình cầu, dài trên 10cm. Quả hình nón ngược, dài 1,6 cm………………………. Quả hình trứng. Lá mọc đối hay gần đối; 3 gân ở gốc; thùy bao hoa tồn tại hay chỉ có phần dưới tồn tại ở giai đoạn quả.

Đôi gân xuất phát từ gốc không kéo dài tới chóp lá, gân phụ 1-2 đôi. Cụm hoa chùy, có lông. Phiến lá có lông ở mặt dưới. Gân giữa của lá lõm hoặc phẳng ở mặt trên.

Gân phụ 1 – 2 đôi ở gần chóp lá; phiến lá hình trứng, cỡ 11 – 17 x 4 – 8 cm…………………………………………………………. Gân phụ 2 – 3 đôi; phiến lá hình trứng ngược, cỡ 17 x 9 cm. Gân giữa lồi lên ở cả 2 mặt. Cụm hoa chùy dài 8 – 12 cm; lá hình trứng hay hình bầu dục, cỡ 10 – 15 x 4 – 6 cm, gân phụ 2 – 3 đôi…………………….

Cụm hoa hình chùy dài 2,5 – 10 cm; lá hình bầu dục, cỡ 8 – 10 x 2,5 – 4 cm; gân phụ 3 -4 đôi ……………………………………C. Lá nhẵn ở mặt dưới. Gân giữa lồi ở cả hai mặt. Lá dạng thuôn hẹp, cỡ 10 – 13 x 1,2 – 2,5 cm, 3 gân gốc và 5 – 6 đôi gân bên; cụm hoa hình chùy ở nách lá, dài 8 – 10 cm ….

burmannii var angustifolium 16A. Phiến lá hình trứng hay hình bầu dục, cỡ 10 – 16 x 3 – 4 cm……………………………………………………. Phiến lá hình giải hay hình giải mũi mác. Lá hình trứng thuôn, cỡ 4,5 – 7,5 x 3 – 5 cm, 3 gân gốc và 2 gân bên; cụm hoa hình chùy ở nách lá hay đỉnh cành dài 2 – 7 cm.

Gân giữa lõm ở mặt trên. Cụm hoa ngắn hơn 7 cm. Cuống hoa dài hơn 1 cm; phiến lá hình trứng – bầu dục, bầu dục mũi mác, cỡ 4 – 13 x 2 – 6 cm; nhị vòng thứ 3 có 2 tuyến, có chân …. Cuống hoa ngắn hơn 1 cm; phiến lá hình bầu dục, cỡ 5 – 9 x 2 – 3 (5) cm; nhị vòng thứ 3 có 2 tuyến không có chân.

Cụm hoa dài 7 – 9 cm…………………………………C. Cụm hoa nhẵn; phiến lá nhẵn cả 2 mặt. Đôi gân xuất phát từ gốc lá kéo dài đến chóp lá, không có gân phụ. Cụm hoa hình chùy có lông.

Gân giữa phẳng hoặc lõm ở mặt trên. Cụm hoa dài hơn 10 cm. Lá có gân mạng không nổi rõ ở mặt dưới; phiến lá hình bầu dục hẹp hoặc hình mũi mác, cỡ 10 – 25 x 4 – 8 cm……………………. Lá có gân mạng thấy rõ ở cả hai mặt hay không thấy rõ ở mặt trên; lá hình bầu dục – thuôn hoặc hình trứng, cỡ 10 – 30 x 5 – 9 cm….

Cụm hoa ngắn hơn 10 cm. Cuống lá dài hơn 1 cm………………………………………. Cuống lá ngắn hơn 1 cm. Gân giữa phồng lên ở cả 2 mặt.

Cuống lá dài 5 – 8 mm. Cuống lá dài 10 – 15 mm………………………………………C. Cụm hoa hình chùy, nhẵn. Gân giữa phẳng hoặc lõm ở mặt trên.

Đôi gân xuất phát từ gốc kéo dài tới chóp lá hay gần chóp lá. Cụm hoa hình chùy ở nách lá. Cụm hoa dài 6 – 8 cm; phiến lá hình trái xoan, cỡ 9 x 5 cm; thùy bao hoa hình chén cắt ngang, dài 4 mm; vỏ có mùi thơm đinh hương ……. Cụm hoa dài 20 – 25 cm; phiến lá hình bầu dục thuôn, cỡ 10 – 44 x 3,5 – 15 cm; thùy bao hoa hình chén có xẻ thùy với đầu tròn; vỏ có mùi thơm quế…………………………………………………C.

Cụm hoa ở đỉnh cành…………………………………………. Gân giữa phồng lên ở cả 2 mặt. Đôi gân xuất phát từ gốc kéo dài bằng 3/4 chiều dài của lá. Phiến lá dài từ 10 cm trở lên; gân giữa lõm ở mặt trên……….

Phiến lá ngắn hơn 10 cm; gân giữa phẳng ở mặt trên. Thành phần hóa học chi Long não (Cinnamomum Schaeff. Tinh dầu Tinh dầu là lớp chất phong phú và được nghiên cứu nhiều nhất trong chi Long não. Thành phần tinh dầu có thể được chiết từ các bộ phận khác nhau của cây như lá, cành, vỏ thân.

Các loài thuộc chi Cinnamomum Schaeff. chủ yếu là phenylpropanoid với thành phần chính là safrol, eugenol, linalool, camphor, bezyl benzoat, hoặc cinnamaldehyd [31]. Dưới đây là hàm lượng tinh dầu và các nhóm thành phần cũng như thành phần hóa học chủ yếu có trong tinh dầu một số bộ phận của các loài đại diện cho chi Long não được thể hiện qua Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ