Tổng quan nghiên cứu

Thị trường dược liệu toàn cầu hiện có hơn 35.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc với quy mô thương mại vượt 80 tỷ USD mỗi năm. Tại Việt Nam, hệ thống y học cổ truyền đã ghi nhận 5.117 loài thực vật và nấm lớn có công dụng chữa bệnh, trong đó gần 90% sinh trưởng tự nhiên trong các hệ sinh thái rừng. Tuy nhiên, áp lực khai thác quá mức cùng sự thu hẹp sinh cảnh đang đe dọa nghiêm trọng nguồn tài nguyên di truyền bản địa. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá thực trạng đa dạng sinh học và tiềm năng phát triển cây thuốc tại xã vùng cao Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Mục tiêu cụ thể của đề tài nhằm xác định thành phần loài, quy luật phân bố sinh thái, kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng địa phương, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn kết hợp phát triển kinh tế bền vững. Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên tổng diện tích tự nhiên 3.002,06 ha của xã Trung Thành, tập trung vào 549,04 ha đất có rừng do Ủy ban nhân dân xã quản lý, trong khung thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược khi định hình phương án bảo tồn nguồn gen cho 22 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời mở ra hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng tạo sinh kế cho 495 hộ dân địa phương với 98% là đồng bào dân tộc Tày, hiện có mức thu nhập bình quân khoảng 18 triệu đồng một người mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết Quản trị Tài nguyên Dựa vào Cộng đồng (CBNRM) và Khung Đánh giá Tính Đa dạng Sinh học Thực vật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Mô hình nghiên cứu vận dụng các nguyên tắc cốt lõi của Tiêu chuẩn Thực hành Tốt Trồng trọt và Thu hái Cây thuốc (GACP-WHO) nhằm bảo đảm tính bền vững trong chuỗi giá trị dược liệu. Khung lý thuyết làm rõ năm khái niệm then chốt: Đa dạng sinh học thực vật bậc cao (Biodiversity), Lâm sản ngoài gỗ (Non-Timber Forest Products - NTFPs), Tri thức bản địa về y học dân tộc (Ethnobotanical Knowledge), Cấp phân hạng bảo tồn theo tiêu chuẩn Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Khung pháp lý quản lý thực vật rừng nguy cấp theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ tài liệu khí tượng thủy văn, bản đồ hiện trạng rừng của Hạt Kiểm lâm huyện Đà Bắc và dữ liệu thực địa sơ cấp. Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm 3 tuyến điều tra cắt ngang các sinh cảnh đặc trưng qua các xóm Trung Thượng, Trung Tằm, Hạ, Búa và Sổ. Trên các tuyến, hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC) diện tích 100 m2 (kích thước 10 m x 10 m) được thiết lập tại 2 đai cao (từ 200 m đến 700 m và từ 700 m đến 1.200 m) để đo đếm cấu trúc tầng cây gỗ, tầng cây tái sinh và thảm tươi cây bụi. Phương pháp chọn mẫu định tính phỏng vấn sâu được áp dụng với 10 hộ gia đình nghệ nhân và thầy lang tiêu biểu nhằm khai thác tri thức y học cổ truyền. Phương pháp phân tích kết hợp hình thái so sánh, tra cứu danh lục chuyên ngành theo tài liệu phân loại học của Võ Văn Chi và Đỗ Tất Lợi cùng phương pháp thống kê toán học mô tả tỷ lệ cơ cấu taxon. Việc lựa chọn phương pháp phân tích này bảo đảm tính chuẩn xác cao trong định danh thực vật học và phản ánh đầy đủ mối tương quan giữa sự phân bố loài với các yếu tố sinh cảnh. Toàn bộ quy trình khảo sát thực địa và phân tích nội nghiệp được hoàn thành trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận tổng số 476 loài cây thuốc, thuộc 336 chi và 125 họ nằm trong 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại xã Trung Thành. Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 441 loài (chiếm 92,65%), 309 chi (chiếm 91,96%) và 106 họ (chiếm 84,80%), trong đó riêng Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm 382 loài (tương đương 86,62%). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) đứng thứ hai với 28 loài (chiếm 5,88%), 21 chi (chiếm 6,25%) và 14 họ (chiếm 11,20%).

Về quy mô họ và chi, sự phân bố loài tập trung mạnh ở một số nhóm ưu thế. Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có số lượng loài lớn nhất với 37 loài (chiếm 7,77%), tiếp đến là họ Cúc (Asteraceae) với 29 loài (chiếm 6,09%), họ Đậu (Fabaceae) và họ Vang (Caesalpiniaceae) đều có 16 loài (chiếm 3,36%). Ở bậc chi, chi Ficus thuộc họ Dâu tằm có số lượng phong phú nhất với 10 loài (chiếm 2,10%), tiếp theo là chi Polygonum với 6 loài (chiếm 1,26%).

Về bộ phận sử dụng, lá cây là cơ quan được khai thác nhiều nhất với 208 loài (chiếm 26,36%), tiếp theo là thân với 180 loài (chiếm 22,81%), toàn cây với 99 loài (chiếm 12,55%) và rễ, vỏ rễ với 68 loài (chiếm 8,62%). Số lượng loài chỉ sử dụng 1 bộ phận chiếm áp đảo với 229 loài (chiếm 68,69%). Về phổ điều trị bệnh, các nhóm bệnh phổ biến gồm bệnh ngoài da với 66 loài (chiếm 13,87%), bệnh đường hô hấp với 60 loài (chiếm 12,61%) và bệnh đường tiêu hóa với 26 loài (chiếm 5,46%).

Về giá trị bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu đã phát hiện 22 loài cây thuốc nguy cấp, quý hiếm. Trong đó có 19 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam (2007) với 8 loài ở mức Nguy cấp (EN) như Lan kim tuyến, Kiều hoa đất, Biến hóa núi cao, Dần tòong, Sến mật; 11 loài ở mức Sẽ nguy cấp (VU) như Lá khôi, Trám đen, Đẳng sâm, Tắc kè đá, Cát sâm. Theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP, khu vực có 2 loài thuộc Nhóm IA nghiêm cấm khai thác thương mại và 5 loài thuộc Nhóm IIA hạn chế khai thác.

Thảo luận kết quả

Sự đa dạng thành phần loài tại khu vực bắt nguồn từ đặc thù địa hình đồi núi hiểm trở với độ dốc bình quân trên 30 độ cùng sự phân tầng độ cao rõ nét. Kết quả khảo sát cho thấy sinh cảnh rừng thứ sinh lưu giữ mật độ cây thuốc cao nhất với 348 loài (chiếm 34,49%), tiếp đến là trảng cây bụi với 218 loài (chiếm 21,61%) và rừng nguyên sinh với 177 loài (chiếm 17,54%). Khi so sánh với các khảo sát tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, xã Trung Thành thể hiện tính đa dạng sinh học tương đồng về cấu trúc ngành thực vật nhưng lại sở hữu mật độ loài dược liệu củ, rễ dưới tán rừng đất ẩm cao hơn.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu các ngành thực vật và biểu đồ cột so sánh tỷ lệ các bộ phận cây thuốc được sử dụng. Bên cạnh đó, một bảng ma trận đối chiếu 9 sinh cảnh sống với 22 loài quý hiếm sẽ phản ánh rõ nét tình trạng suy giảm nguồn gen. Thực tế phỏng vấn cho thấy hiện tượng thương lái tự do thu mua thân, rễ thảo dược bản địa đang tạo áp lực khai thác mang tính hủy diệt, đòi hỏi phải có sự can thiệp quản lý ngay ở cấp cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Xây dựng mô hình nhân giống và bảo tồn ex-situ: Thiết lập 2 vườn ươm giống dược liệu bán tự nhiên với quy mô 1.500 m2 tại xã Trung Thành nhằm ứng dụng kỹ thuật giâm cành và nhân giống invitro cho các loài nguy cấp như Lan kim tuyến, Lá khôi và Đẳng sâm. Đặt mục tiêu sản xuất 50.000 cây giống đạt chuẩn trong giai đoạn 2021 - 2023, do Trung tâm Khuyến nông huyện Đà Bắc chủ trì phối hợp cùng các nhà khoa học Trường Đại học Lâm nghiệp.
  • Quy hoạch vùng trồng chuyên canh dưới tán rừng: Khoanh vùng 50 ha rừng phòng hộ và rừng thứ sinh phục hồi tại đai cao 200 - 700 m để phát triển mô hình trồng xen các loài thảo dược có giá trị kinh tế như Sa nhân tím, Khôi nhung và Cát sâm. Kế hoạch nhằm tăng độ che phủ thảm thực vật thêm 2,5% và hoàn thành trồng mới trước quý IV năm 2025 dưới sự quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ kết hợp các tổ hợp tác thôn bản.
  • Thành lập hợp tác xã sơ chế và chế biến dược liệu sạch: Thành lập hợp tác xã dịch vụ nông lâm nghiệp tại địa phương, đầu tư 1 hệ thống máy sấy nhiệt sạch công suất 500 kg nguyên liệu mỗi mẻ để chuẩn hóa quy trình sơ chế, đóng gói. Mục tiêu nâng giá trị thương phẩm lên 35 - 40% và nâng thu nhập bình quân của 495 hộ dân lên mức 28 triệu đồng một người mỗi năm vào năm 2025, do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình hỗ trợ kinh phí.
  • Hoàn thiện thể chế quản lý rừng dựa vào cộng đồng: Ban hành hương ước thôn bản về bảo vệ nguồn gen cây thuốc tại 5 xóm, kiểm soát 100% các điểm thu gom thương mại tự do và áp dụng cơ chế trích 15% nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng để bồi dưỡng đội tuần tra bảo vệ. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình phối hợp Hội đồng nhân dân xã Trung Thành tổ chức giám sát và định kỳ đánh giá hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng kiểm lâm: Chi cục Kiểm lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đà Bắc cùng Ủy ban nhân dân cấp xã có thể ứng dụng cơ sở dữ liệu về 476 loài cây thuốc và bản đồ phân bố 22 loài quý hiếm để xây dựng phương án khoanh nuôi bảo vệ rừng và hoạch định chính sách lâm nghiệp địa phương.
  • Các viện nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành: Các nhà khoa học trong lĩnh vực Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Thực vật học và Dược học sử dụng số liệu điều tra theo ô tiêu chuẩn và danh lục phân loại học làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu sinh thái học thực vật dân tộc.
  • Doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dược phẩm: Các công ty kinh doanh đông dược, thực phẩm bảo vệ sức khỏe có thể khai thác các dẫn liệu phân bố để khảo sát vùng nguyên liệu tự nhiên, lựa chọn các loài cây thuốc tiềm năng như Sến mật, Lá khôi, Hoàng đằng nhằm ký kết hợp đồng liên kết sản xuất theo tiêu chuẩn GACP-WHO.
  • Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển sinh kế: Các dự án phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học tìm thấy trong luận văn mô hình tích hợp tri thức bản địa của 98% cộng đồng người Tày vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào thiểu số Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Luận văn đã ghi nhận bao nhiêu loài cây thuốc tại xã Trung Thành và ngành nào chiếm ưu thế? Trả lời: Luận văn đã thống kê được 476 loài cây thuốc, thuộc 336 chi và 125 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Mộc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế áp đảo với 441 loài, chiếm tỷ lệ 92,65% tổng số loài toàn khu vực. Riêng Lớp Ngọc lan chiếm tới 382 loài, phân bố rộng rãi trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên.

Hỏi: Những loài cây thuốc nguy cấp, quý hiếm nào cần được ưu tiên bảo vệ khẩn cấp tại địa bàn? Trả lời: Khu vực có 22 loài cây thuốc thuộc diện nguy cấp quý hiếm, bao gồm 19 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (với 8 loài mức EN như Lan kim tuyến, Kiều hoa đất, Biến hóa núi cao) và 7 loài theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP (với 2 loài nhóm IA). Điển hình như Lan kim tuyến và Hoàng đằng đang chịu áp lực khai thác ráo riết từ thương lái.

Hỏi: Thói quen thu hái và bộ phận sử dụng cây thuốc của cộng đồng bản địa có đặc điểm gì? Trả lời: Đồng bào địa phương sử dụng lá cây nhiều nhất với 208 loài (chiếm 26,36%), tiếp theo là thân với 180 loài (chiếm 22,81%) và toàn bộ cây với 99 loài (chiếm 12,55%). Tỷ lệ cây thuốc chỉ khai thác một bộ phận duy nhất chiếm tới 68,69%, đây là tập quán tương đối thuận lợi cho khả năng tái sinh tự nhiên của cây rừng.

Hỏi: Đặc điểm phân bố cây thuốc theo đai cao và sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu như thế nào? Trả lời: Cây thuốc tập trung nhiều nhất ở đai cao dưới 700 m và sinh cảnh rừng thứ sinh với 348 loài (chiếm 34,49%), tiếp đến là trảng cây bụi với 218 loài (chiếm 21,61%). Ở đai cao trên 700 m, rừng già nguyên sinh lưu giữ các loài thảo dược đặc hữu có giá trị kinh tế và dược tính cao nhưng diện tích đang bị thu hẹp.

Hỏi: Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào để phát triển kinh tế từ cây thuốc cho người dân địa phương? Trả lời: Luận văn đề xuất quy hoạch 50 ha vùng trồng dược liệu chuyên canh dưới tán rừng phòng hộ kết hợp xây dựng hợp tác xã chế biến tại chỗ. Giải pháp này giúp phát huy tri thức bản địa của 98% người Tày, gia tăng giá trị sản phẩm thêm 35 - 40% và nâng thu nhập bình quân của 495 hộ dân lên 28 triệu đồng một người mỗi năm.

Kết luận

  • Xác lập danh lục khoa học gồm 476 loài cây thuốc thuộc 336 chi và 125 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại xã Trung Thành.
  • Xác định chính xác 22 loài dược liệu quý hiếm có giá trị bảo tồn cao, gồm 19 loài trong Sách Đỏ Việt Nam và 7 loài thuộc Nghị định 06/2019/NĐ-CP.
  • Làm sáng tỏ quy luật phân bố sinh thái theo 2 đai cao và 9 sinh cảnh, chỉ rõ rừng thứ sinh là nơi tập trung nhiều loài nhất với 348 loài.
  • Đánh giá toàn diện tập quán sử dụng của cộng đồng với 208 loài dùng lá và 66 loài chủ trị các nhóm bệnh ngoài da phổ biến.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp chuyển giao kỹ thuật nhân giống với thể chế quản lý rừng dựa vào cộng đồng.

Luận văn đã đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng và luận cứ khoa học quan trọng cho chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển lâm sản ngoài gỗ vùng cao Tây Bắc. Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung triển khai đề án quy hoạch 50 ha vùng trồng dược liệu và hoàn thiện vườn ươm giống trong giai đoạn 2021 - 2025. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp dược phẩm và tổ chức nghiên cứu hãy tăng cường liên kết đầu tư để bảo tồn nguồn gen quý và hiện thực hóa mục tiêu nâng cao sinh kế xanh cho cộng đồng địa phương.