Đặt vấn đề Nước ta nhờ có vị trí tự nhiên hiếm có, một mặt gắn liền với lục địa, mặt khác lại thông với đại dương và nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở vùng núi thấp phía Nam, đến khí hậu mang tính chất Á - nhiệt đới vùng núi cao ở các tỉnh phía Bắc. Điều kiện tự nhiên đó đã thực sự ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng về chủng loại, trong đó có tiềm năng to lớn về nguồn tài nguyên cây thuốc. Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN- PTNT, hiện nay Việt Nam có khoảng 5.117 loài và dưới loài thực vật được sử dụng làm thuốc, thuộc 1.823 chi, 360 họ của ngành thực vật bậc cao có mặt, cùng với một số taxon thuộc nhóm rêu, tảo và nam lớn, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu trong nước và xuất khâu. Tuy nhiên sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập và đời sống người dân được cải thiện, xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, nhất là các sản phẩm thuốc và thực phẩm chức năng đang là xu hướng ở thế giới và Việt Nam.
Theo Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam, nhu cầu hàng năm về nguyên liệu cho sản xuất thực phẩm chức năng khoảng từ 50.000 tan có liên quan đến dược liệu (sản xuất trong nước mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu dược liệu trong nước). Do nhu cầu sử dụng nguồn được liệu tăng, việc khai thác ngoài tự nhiên dài cùng với một số nguyên nhân khác như cháy rừng, gia tăng dân số, dẫn đến nguồn tài nguyên cây thuốc bị cạn kiệt, nhiều loài cây thuốc đang phải đối mặt với nguy cơ bị tuyệt diệt nhất là các loài quý hiếm như Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus), Hoàng liên (Coptis chinensis), Ba kích (Morinda officinalis),. Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi có động thực vật đa dạng và phong phú, giá trị và hội tụ nhiều dân tộc sinh sống như Kinh, Ra Grai, Chăm, K’Ho,. Một số sống tập chung ở các xã vùng cao với tập quán sản xuất làm nghề rừng, làm nương rẫy, một bộ phận nhỏ trồng lúa nước và được tổ chức thành những buôn làng cùng với truyền thống chữa bệnh bằng cây cỏ dại làm thuốc chữa bệnh.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có một nghiên cứu nảo cụ thê về các loài cây dược liệu dùng làm thuốc ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông. Do đó, đề tài “Điều tra các loài cây dùng làm dược liệu ở tiêu khu 358, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông, tỉnh Bình Thuận” được thực hiện nhằm góp phần vào công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật của địa phương ở hiện tại và trong tương lai. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá được mức độ đa dang của nguồn tài nguyên cây thuốc, khảo sát người dân về việc sử dụng, khai thác tài nguyên cây thuốc đề từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây này tại khu vực nghiên cứu.
Mục tiêu cụ thể Đáng giá đa dạng về thành phan loài, số lượng loài, dang sống và phân bố của cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu. Nắm bat hiện trạng khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên dược liệu của người dân địa phương. Đề suất một số giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây này ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, tỉnh Bình Thuận. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1.
Phạm vi nghiên cứu Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu một số loài cây dùng làm dược liệu xuất hiện trên 4 tuyến điều tra ở Tiểu khu 358, Khu Bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, tỉnh Bình Thuận. Đồng thời, tìm hiểu thêm một số bài thuốc về cây dược liệu được người dân sử dụng chữa một số bệnh trong địa phương. Thời gian làm đề tài từ tháng 09/2022 đến tháng 02/2023. Đối tượng nghiên cứu Đề tài chỉ tập chung nghiên cứu các loài cây dược liệu ở dạng cây bụi, dây leo, thân thảo là một số loài xuất hiện trên các tuyến điều tra (trong đó có một số loài thuộc nhóm cây gỗ được người dân sử dụng phô biến).
Đồng thời phỏng vấn 30 hộ dân tại khu vực nghiên cứu nhằm thu thập một sỐ thông tin về cây dược liệu. Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình khai thác, trồng trọt và nhu cầu sử dụng dược liệu làm thuốc trên thế giới và ở Việt Nam 2. Trên thế giới Cây thuốc là nhóm tài nguyên thực vật có giá trị, liên quan trực tiếp đến bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Kinh nghiệm sử dụng các loài cây thuốc đã được ghi nhận từ cách đây hàng nghìn năm. Theo ước tính của Quỹ Quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (WWE), có khoảng từ 35.000 loài (trong tổng số 250.000 loài cây) được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toan thế giới. Trong đó, riêng Trung Quốc đã công bồ tới hơn 10.000 loài; An Độ có khoảng 6.000 loài; Vùng nhiệt đới châu Mỹ có hơn 1900 loài; ngoài ra ở các nước châu Phi, như Zaire, Botsoana, Kenia,. cũng có hàng trăm loài cây thuốc được sử dụng rộng rãi.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới - WHO về thị trường dược liệu trên thế giới, ở Trung Quốc doanh số thị trường thuốc từ được thảo đạt 26 tỷ USD (2008), ở Mỹ 17 tỷ USD (2004), Nhật Bản 1,1 tỷ USD (2006), Hàn Quốc 250 triệu USD (2007), châu Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004),. Tính trên toàn thế giới, hang năm doanh thu thuốc từ được thảo ước đạt khoảng trên 80 ty USD. Thuốc từ được thảo (chủ yếu từ cây cỏ) được hiểu gồm 2 đối tượng: Dược thảo dùng làm thuốc trong Y học cổ truyền (nhiều nhất ở Trung Quốc, Ấn Độ và trong đó có cả Việt Nam) và Dược thảo là nguyên liệu chiết xuất hoạt chất dé làm thuốc. Vài chục năm trở lại đây, xu hướng nghiên cứu sàng lọc từ cây cỏ, các hợp chất tự nhiên có hoạt tính cao để làm thuốc, được quan tâm nhiều không chỉ ở các nước phát triển mà ở cả các nước đang phát triển.
Nhu cầu về được liệu - cây thuốc trên thị trường thé giới càng ngày càng cao. Thị trường thuốc từ thảo mộc cho tới nay với hơn hàng nghìn sản phẩm. Trong lĩnh vực sản xuất và xuất khâu thảo được, Trung Quốc và Ấn Độ là 2 nước sản xuất thảo được lớn nhất, chiếm 40% thị phần thế giới. Trong giai đoạn 1991 - 2000, 10 quốc gia hàng đầu về nhập khẩu được liệu với tông trị giá trên 900 triệu đô la Mỹ/năm gồm có: Hồng Kông: 67 nghìn tấn/năm; Nhật: 51,4; Mỹ: 49,6; Đức: 45,4: Han Quốc: 32,2; Pháp: 21,4; Trung Quéc: 13,5; Y: 11,7; Pakistan: 11,0: Tay Ban Nha: 9,1.
Còn 10 quốc gia hàng đầu xuất khâu được liệu là: Trung Quốc: 147,0 nghìn tan/nam; Hồng Kông: 63,2; An Độ: 33,9; Đức: 15,1; Mỹ: 13,5; Méhico: 13,0; Ai cập: 11,8; Chi Lê: 11,6; Bungari: 10,0; Singapore: 9,6. Tổng giá tri xuất khẩu dược liệu của 10 nước đạt trên 876 triệu đô la Mỹ/năm. Theo nguôn tin của Tổ chức Y tế thé giới, doanh thu từ được liệu (mới tính trên giá trị sản xuất, chưa tính tổng giá trị của thị trường) ở Mỹ đạt 17 tỷ đô la Mỹ (2000); Châu Âu: 4,55 tỷ (2004); Trung Quốc: 2,3 tỷ (2008); Nhật Bản: 1,076 tỷ; Hàn Quốc: 250 triệu (2007); Inđônêsia: 189 triệu (2002); Malaysia: 38 triệu (2007); Thái Lan: 16,7 triệu (1999). Cũng theo các con số thống kê của WHO, tỷ lệ dân số sử dụng thuốc YHCT cho chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh ngày càng tăng, như Trung Quốc: 90%, trong đó 45% tiền thuốc bảo hiểm y tế là thuốc từ được liệu; Myanmar (2008): 70%; Hàn Quốc: 69%; Hồng Kông: 60%; Nauru: 60%; Philipin: 57%; Singapor (2004): 53% dân số đã khám bệnh tại các cơ sở YHCT; Nhật Bản: 49%; Úc: 48,5%, Inđônêsia (2001): 40% dân số sử dụng thuốc YHCT, chiếm 70% ở vùng nông thôn.
Những năm gần đây, nhiều nhà sản xuất có xu hướng sản xuất các thuốc bổ trợ, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hương liệu.và đã lam tăng đáng ké doanh số của thị trường dược liệu thế giới. Chính vì vậy, sản xuất và kinh doanh được liệu đã và đang mang lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế, ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc. Nhiều loài cây thuốc đã được sử dụng làm nguyên liệu dé chiết xuất các hoạt chất phục vụ công nghiệp dược trên thế giới như: Cây Echinaceae spp., Ban châu âu - Hypericum perforatum, Piper methysticum; Gai chống - Tribulus spp., Nữ 5 lang chau âu - Valeriana officinalis, Cúc gai dài - Silibum marianum, Syringa vulgaris, Dâm dương hoắc - Cimicifuga racemosa, Nhân sâm - Panax ginseng. Nông nghiệp hữu cơ đang là xu hướng trên thế giới.
Năm 2000, quỹ đất cho nông nghiệp hữu cơ vào khoảng 14,9 triệu ha trên toàn thế giới, doanh thu bán lẻ 17,9 tỷ USD. Sau 15 năm, diện tích canh tác hữu cơ tăng lên 50,9 triệu ha (gấp 4 lần), trong khi giá trị tăng đến 81,6 ty USD (gấp 5 lần). Bắc Mỹ và châu Âu là hai khu vực có doanh số bán lẻ cao nhất, theo khảo sát năm 2017 của FiBL, AMI. Trong đó Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất chiếm hơn nửa doanh thu toàn cầu.
Bên cạnh việc xuất khâu, Mỹ cũng nhập khẩu các sản phẩm hữu cơ từ 111 quốc gia khác nhau. Việt Nam cũng nằm trong 179 quốc gia có mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên thế giới. Từ năm 2007 đến 2015, diện tích canh tác và nuôi trồng hữu cơ trên cả nước tăng từ 12.666 ha, nhanh hơn tốc độ trung bình toản cau. Phát triển được liệu hữu cơ cũng không nằm ngoài xu hướng này trong tương lai.
Ở Việt Nam Với trên 90 triệu dân Việt Nam, hứa hẹn cho dược liệu một thị trường tiềm năng khi nhu cầu sử dụng mặt hàng này của mặt hàng này ngày càng lớn, có tốc độ tăng trưởng bình quân cao 11,7%/năm. Không chỉ là thuốc, xu thế mỹ phẩm dùng nguyên liệu từ thiên nhiên thay thế nguyên liệu tổng hợp đã chiếm 90% tổng số mỹ phẩm được sản xuất. Tại Việt Nam, nhu cầu dược liệu khoảng 80. Tuy nhiên hiện phần lớn vẫn phải nhập khâu.
Dược liệu được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm: Sử dụng trong các bệnh viện YHCT, sản xuất thuốc, sản xuất thực phẩm chức năng, làm thực phẩm, gia vị.con số thống kê tiềm năng nhu cầu sử dụng dược liệu là vô cùng khó khăn.