MỞ ĐẦU Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy là vùng bãi bồi ở cửa sông ven biển thuộc huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định được đặc trưng bởi sinh cảnh của hệ sinh thái rừng ngập mặn, là nơi di cư, trú ngụ của nhiều loài chim nước trên thế giới. Hệ sinh thái này được cấu thành bởi môi trường đất, nước và các loài sinh vật sống trong nó, đặc biệt là sinh cảnh rừng ngập mặn. Các thành phần chất lượng môi trường đất, nước là giá đỡ, nuôi dưỡng sự tồn tại và phát triển sinh cảnh rừng ngập mặn, tạo cho hệ sinh thái rừng ngập mặn những chức năng, giá trị kinh tế xã hội, môi trường và văn hóa vô cùng quan trọng đối với cộng đồng dân cư vùng cửa sông ven biển Giao Thuỷ. Tuy nhiên, VQG Xuân Thủy đang đứng trước nguy cơ bị đe doạ nghiêm trọng bởi các hoạt động phát triển của con người và tác động của thiên nhiên.
Những tác động này ảnh hưởng trực tiếp đến các thành phần chất lượng môi trường đất, nước và sinh cảnh của rừng ngập mặn, gây ảnh hưởng đến hệ thống cấu trúc của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Nhằm góp phần phục vụ công tác quản lý và bảo tồn hiệu quả tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) Vườn quốc gia Xuân Thủy, đề tài luận văn “Nghiên cứu một số tính chất môi trường đất, nước trong hệ sinh thái Vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định” đã tiến hành khảo sát thực địa, thu thập thông tin số liệu và phân tích các chỉ tiêu lý hóa của một số mẫu đất, nước lấy tại các khu vực khác nhau trong VQG nhằm đánh giá hiện trạng môi trường, qua đó đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý, bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học VQG Xuân Thủy. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan hệ sinh thái của các vùng đất ngập nƣớc (ĐNN) ở Việt Nam 1. Một số khái niệm về đất ngập nước Đất ngập nước là hệ sinh thái quan trọng trên trái đất, nó là nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế cao, là bồn chứa cacbon, là nơi bảo tồn các nguồn gen và chuyển hóa các vật liệu hóa học, sinh học. Ngoài ra, ĐNN là nơi thu nhận ở hạ nguồn các chất thải có nguồn gốc tự nhiên và nhân sinh, chúng làm sạch nước ô nhiễm, ngăn ngừa ngập lụt, bảo vệ bờ biển và tái nạp tầng chứa nước ngầm. Một vai trò rất quan trọng khác của ĐNN là nơi cư trú cho nhiều động thực vật hoang dã.
Chính những vai trò quan trọng này mà ĐNN hiện nay đã được đưa vào các bộ luật để bảo vệ cùng với những quy định và kế hoạch quản lý [14]. Thuật ngữ ĐNN được hiểu theo nhiều cách khác nhau, hiện nay có khoảng trên 50 định nghĩa về ĐNN khác nhau được sử dụng [40]. Qua các nghiên cứu, các nhà khoa học về ĐNN đã xác định được những điểm chung của ĐNN thuộc các loại khác nhau, đó là chúng đều có nước nông hoặc đất bão hòa nước, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân hủy chậm và nuôi dưỡng nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điều kiện bão hòa nước [24]. - Định nghĩa về ĐNN theo công ước Ramsar (Công ước về các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước) năm 1971 có tầm khái quát và bao hàm nhất.
Công ước Ramsar định nghĩa: ĐNN được coi là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khu thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m [6]. - Theo Chương trình quốc gia về điều tra ĐNN của Mỹ định nghĩa về ĐNN như sau: Về vị trí phân bố, ĐNN là những vùng đất chuyển tiếp giữa những HST trên cạn và HST thủy vực. Những nơi này mực nước ngầm thường nằm sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông. ĐNN phải có một trong ba đặc tính sau [36]: 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh.
+ Nền đất hầu như không bị khô. + Nền đất không có cấu trúc rõ rệt hoặc bão hòa nước, bị ngập nước ở mức cạn tại một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hàng năm. - Theo các nhà khoa học Canada: “ĐNN là đất bão hòa nước trong thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh. Đó là những nơi khó tiêu thoát nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt”.
- Các nhà khoa học New Zealand định nghĩa: “ĐNN là một khái niệm chung để chỉ những vùng đất ẩm ướt từng thời kỳ hoặc thường xuyên. Những vùng đất ngập nước ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất và nước. Nước có thể là nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn. ĐNN ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi các loại thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ướt”.
Dù có nhiều định nghĩa về ĐNN nhưng có thể thấy nước – chế độ thủy văn vẫn là yếu tố tự nhiên quyết định và đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định, duy trì và quản lý các vùng ĐNN, đặc biệt là các vùng ĐNN nước ngọt nội địa. Ở Việt Nam, ĐNN rất đa dạng với diện tích xấp xỉ. Chức năng của hệ sinh thái đất ngập nước 1. Chức năng sinh thái của đất ngập nước - Nạp nước ngầm: Nước được thấm từ các vùng ĐNN xuống các tầng ngập nước trong lòng đất, nước được giữ ở đó và điều tiết dần thành dòng chảy bề mặt ở vùng ĐNN khác cho con người sử dụng.
- Hạn chế ảnh hưởng của lũ lụt: Bằng cách giữ và điều hòa lượng nước mưa như “bồn chứa” tự nhiên, giải phóng nước lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ lụt ở vùng hạ lưu. - Ổn định vi khí hậu: Do chu trình trao đổi chất và nước trong các HST, nhờ lớp phủ thực vật của ĐNN, sự cân bằng giữa O2 và CO2 trong khí quyển làm cho vi khí hậu địa phương được ổn định, đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa ổn định. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chống sóng, bão, ổn định bờ biển và chống xói mòn: Nhờ lớp phủ thực vật, đặc biệt là RNM ven biển, thảm cỏ.có tác dụng làm giảm sức gió của bão và bào mòn đất của dòng chảy bề mặt. - Xử lý nước, giữ lại chất cặn, chất độc,.: Vùng ĐNN được coi như một “bể lọc” tự nhiên, có tác dụng giữ lại các chất lắng đọng và chất độc (chất thải sinh hoạt và công nghiệp).
- Giữ lại chất dinh dưỡng: Làm nguồn phân bón cho cây và thức ăn của các sinh vật sinh sống trong HST đó. - Sản xuất sinh khối: Rất nhiều vùng ĐNN là nơi sản xuất và xuất khẩu sinh khối làm nguồn thức ăn cho các sinh vật thủy sinh, các loài động vật hoang dã cũng như vật nuôi. - Giao thông thủy: Hầu hết các sông, kênh rạch, các vùng hồ chứa nước lớn, vùng ngập lụt thường xuyên hay theo mùa,. đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, vận chuyển thủy đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cũng như phát triển kinh tế của các cộng đồng dân cư địa phương.
- Giải trí, du lịch: Các Khu bảo tồn ĐNN như Tràm Chim (huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) và Xuân Thủy (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), nhiều vùng cảnh quan đẹp như Bích Động và Vân Long (tỉnh Ninh Bình), cũng như nhiều đầm phá ven biển miền Trung. thu hút nhiều khác du lịch đến thăm quan giải trí [14]. Chức năng kinh tế - Tài nguyên rừng: Các loài động vật, thực vật thường rất phong phú ở các vùng ĐNN, tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, có thể khai thác để phục vụ lợi ích kinh tế. Tài nguyên rừng cung cấp các sản phẩm quan trọng như gỗ, than, củi và các sản phẩm khác như nhựa, tinh dầu, dược liệu.
- Thủy sản: các vùng ĐNN là môi trường sống và nơi cung cấp thức ăn cho các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao như cá, tôm, cua, động vật thân mềm. - Tài nguyên cỏ và tảo biển: Nhiều diện tích ĐNN ven biển có những loại tảo, cỏ biển là nguồn thức ăn của nhiều loài thủy sinh vật và còn được sử dụng làm thức ăn cho người và gia súc, làm phân bón và dược liệu. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sản phẩm nông nghiệp: Các ruộng lúa nước chuyên canh hoặc xen canh với các cây hoa màu khác đã tạo nên nhiều sản phẩm quan trọng khác của vùng ĐNN. - Cung cấp nước ngọt: Nhiều vùng ĐNN là nguồn cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt tưới tiêu, cho chăn nuôi gia súc và sản xuất nông nghiệp.
Ví dụ: Rừng tràm, ngoài giá trị kinh tế còn giữ vai trò dự trữ nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của các cộng đồng dân cư sống trên vùng đất phèn. - Tiềm năng năng lượng: Than bùn là một nguồn nhiên liệu quan trọng; các đập; thác nước cũng là nguồn cung cấp năng lượng. Rừng tràm ở Việt Nam có khoảng 305 triệu tấn than bùn cung cấp nguồn năng lượng lớn. Lớp than bùn này còn được dùng làm phân bón và ngăn cản quá trình xì phèn.
Giá trị đa dạng sinh học Giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) là thuộc tính đặc biệt và quan trọng của ĐNN. Nhiều vùng ĐNN là nơi cư trú rất thích hợp của các loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài chim nước, trong đó có nhiều loài chim di trú. Chỉ riêng HST rừng ngập mặn (RNM) vùng cửa sông ven biển, một kiểu HST được tạo thành bởi môi trường trung gian giữa biển và đất liền, là một HST có năng suất cao, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Đó là nơi cung cấp các lâm sản, hải sản có giá trị kinh tế cao.
Bên cạnh vai trò điều hòa khí hậu, hạn chế xói lở, ổn định và mở rộng bãi bồi. Giá trị đa dạng sinh học của ĐNN bao gồm cả giá trị văn hóa, nó liên quan tới cuộc sống tâm linh, các lễ hội truyền thống phản ánh ước vọng của người dân địa phương sống trong đó và các hoạt động du lịch sinh thái.