CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. Tổng quan về ung thư 1. Tình hình ung thư trên thế giới Ung thư là tập hợp các bệnh lý về sự phát triển nhanh chóng không có kiểm soát của các tế bào bất thường không bị loại bỏ bởi hệ thống miễn dịch. Các tế bào ung thư ảnh hưởng tới các tế bào bình thường xung quanh hình thành thêm các mạch máu bao quanh tạo thành khối u sau đó di căn qua các cơ quan khác của cơ thể [1].
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành ung thư trong đó chủ yếu là do lối sống và thực đơn ăn uống không lành mạnh, môi trường sinh sống bị ô nhiễm, tiếp xúc với môi trường chứa chất gây ung thư và nhiều nguyên nhân khác. Căn bệnh ung thư đã và đang trở thành gánh nặng trên toàn cầu. Dựa trên các thông số thu thập được của tổ chức Y tế thế giới, vào năm 2020, toàn cầu có khoảng 19.3 triệu ca ung thư và khoảng 10 triệu ca tử vong do ung thư, trong đó 5 loại ung thư có tỷ lệ mắc cao nhất bao gồm ung thư vú, ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, ung thư tiền liệt tuyến và ung thư dạ dày [1], [2]. Dựa trên một bài đánh giá từ Hoa Kỳ, ung thư đã trở thành nguyên nhân tử vong thứ hai tại Hoa Kỳ [3], [4], [5].
Ngoài ra ung thư còn trở thành một gánh nặng kinh tế cho nền y tế toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, chi phí y tế dành cho ung thư năm 2020 đã tăng 27% so với năm 2010.1 Tỷ lệ các bệnh ung thư trên toàn thế giới [5] 4 1. Tình hình ung thư ở Việt Nam Theo thống kê của Hội nghị khoa học quốc tế về phòng chống ung thư, số ca bệnh ghi nhận được ở Việt Nam thuộc nhóm cao thứ hai trên toàn cầu. Hàng năm, Việt Nam có thêm 200.000 ca mắc mới, nâng số ca tử vong lên 82.
Việt Nam có tỷ lệ tử vong là 73.5%, trên thế giới là 59.7%, ở các quốc gia phát triển là 49.4%, các quốc gia đang phát triển cũng chỉ ở mức 67. Điều này cảnh báo rằng tỷ lệ tử vong do ung thư ở Việt Nam đang tăng lên đến mức báo động, một phần là do chẩn đoán bệnh muộn, khiến cho việc điều trị giảm hiệu quả. Theo như số liệu tại bệnh viện K Trung ương cung cấp, tỷ lệ đăng ký điều trị ung thư của năm sau cao hơn từ 20% - 30% so với năm trước. Ngoài ra, các bệnh viện ung bướu khác cũng gặp phải tình trạng không đủ giường điều trị vì thực tế công tác phòng chống và điều trị bệnh ung bướu ở Việt Nam chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu của bệnh nhân.2 Số liệu ung thư tại Việt Nam [1].
Các chuyên gia y tế đã chỉ ra rằng có rất nhiều nguyên nhân khiến tỷ lệ mắc bệnh ở Việt Nam tăng không kiểm soát. Dưới đây là 3 lý do chính dẫn đến nguyên nhân gây bệnh: - Do cường độ công việc quá sức. Các cuộc khảo sát gần đây cho thấy rằng có tới 95% lao động và doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI phải làm tăng ca và làm ca đêm. Hầu hết các công nhân lao động đều mắc các bệnh về sức khoẻ nhưng vấn đề về bảo hộ lao động ở Việt Nam cũng chưa được chú trọng.
Những công ty hoá chất, phóng xạ vẫn chưa được trang bị đầy đủ đồ bảo hộ. 5 - Ô nhiễm môi trường. Hiện nay, vấn đề ô nhiễm không khí từ khói bụi, hoá chất, và thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ nhiễm bệnh ung thư phổi và vòm họng. Đặc biệt ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mức độ ô nhiễm không khí đã đạt đến mức tím – mức cực kỳ nguy hiểm.
Ngoài ra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm thấp, ô nhiễm đất, thực phẩm có tồn dư nhiều hóa chất độc hại là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh ung thư dạ dày, đại tràng và thực quản. - Chế độ dinh dưỡng. Thói quen ăn uống ở Việt Nam thường nghiêng về sở thích cá nhân hơn là tuân theo chế độ ăn uống lành mạnh. Các món ăn sống như gỏi hay đồ nướng vô cùng phổ biến trong các bữa ăn hàng ngày nhưng tiềm ẩn mối đe doạ đến từ các tế bào gây biến đổi gen.
Bên cạnh đó, nhưng hộ nghèo và dân tộc thiểu số trên vùng cao thiếu thốn về nhận thức và kinh tế dẫn đến việc vẫn tiêu thụ thực phẩm thiu mốc, quá hạn sử dụng khiến cơ thể tích tụ chất độc. Hiện nay, các sản phẩm đóng gói ăn liền có chứa chất bảo quản và chất kích thích cũng đáng e ngại. Tất cả những nguyên nhân trên đều góp phần tăng tỷ lệ ung thư liên quan đến đường tiêu hóa [7]. Hiện trạng ung thư gan Trong năm 2018 đã ghi nhận 840.000 ca mắc ung thư gan mới trên toàn thế giới, nâng số ca tử vong lên 700.000 ca, một tỷ lệ đáng báo động.
78% nguyên nhân mắc bệnh ung thư gan là do bệnh nền virus viêm gan B (HBV) và virus viêm gan C (HCV). Đặc biệt, tỷ lệ mắc ung thư ở nam cao hơn so với nữ giới. Tại Việt Nam, theo hội thảo chuyên đề gan mật Việt Nam – Nhật Bản được tổ chức tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) vào 2018 đã đề cập đến tình trạng ung thư gan ở nước ta. Việt Nam đứng thứ 4 trong số 25 nước có tỷ lệ mắc ung thư gan cao nhất thế giới.
Bên cạnh đó, ung thư gan cũng là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong liên quan đến ung thư, chỉ sau ung thư phổi. Giám đốc khu vực Tây Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) - Shin Young-soo cho biết lượng tiêu thụ bia ở người Việt Nam đã ở mức đáng báo động. Trung bình một người Việt Nam trên 15 tuổi uống khoảng 8,3 lít cồn nguyên chất mỗi năm, nhiều hơn các quốc gia khác như Trung Quốc (7,2 lít), Campuchia (6,7 lít), Philippines (6,6 lít) và Singapore (2 lít). Theo thông tin từ Bộ Y tế, Việt Nam có hơn 7,8 triệu bệnh nhân mắc viêm gan B và khoảng 6 991.000 bệnh nhân mắc viêm gan C.
Trong số các trường hợp viêm gan B, có hơn 51.000 trường hợp tiến triển thành xơ gan và hơn 14.000 ca khác tiến triển thành ung thư. Trong số các bệnh nhân viêm gan C, có hơn 13.000 ca chuyển sang xơ gan và 6.000 ca chuyển sang ung thư gan. Ung thư hiện đang là vấn đề nan giải mà các nước trên thế giới phải tìm cách giải quyết và cải thiện, trong đó có Việt Nam. Tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư cao gấp 9 lần số ca tử vong tai nạn giao thông, đến 73% tổng số người bệnh ở Việt Nam.
Tỷ lệ tử vong này cao đa phần là do 87,8% bệnh nhân ung thư gan đến điều trị trong giai đoạn muộn. Những dữ liệu trên đã phản ánh được mức độ nguy hiểm của bệnh ung thư. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nghiêm trọng của căn bệnh này là do người dân chưa tìm hiểu kỹ càng và trang bị những biện pháp tầm soát để phát hiện căn bệnh này kịp thời. Điều này chứng tỏ việc nghiên cứu các phương pháp điều trị mới cho ung thư gan là rất cần thiết để giảm thiểu tỷ lệ tử vong do ung thư gan nói riêng và ung thư nói chung không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.
Các phương pháp điều trị ung thư hiện nay Theo sự phát triển của khoa học và kĩ thuật, các phương pháp chữa trị ung thư càng ngày càng hoàn thiện và tân tiến trong đó các phương pháp thường gặp nhất bao gồm: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, điều trị miễn dịch, điều trị nội tiết. Các phương pháp có thể phối hợp với nhau giúp việc chữa trị trở nên dễ dàng hơn cũng như giúp kéo dài tuổi thọ của những bệnh nhân ung thư. Tuy nhiên, một số phương pháp bị giới hạn về khả năng ứng dụng với một số loại ung thư riêng biệt. Không chỉ vậy các phương pháp này có những tác dụng phụ không thể tránh khỏi và để lại những di chứng nghiêm trọng đối với cơ thể người bệnh.
Sự tăng sinh mạch máu và định hướng trong điều trị ung thư 1. Sự tăng sinh mạch máu Hiện tượng tăng sinh mạch máu (angiogenesis), là hiện tượng các mạch máu mới được hình thành từ các mạch máu cũ một cách bất thường ở vùng tổn thương [8], [9]. Tăng sinh mạch máu là cơ chế cần thiết để nuôi dưỡng và phát triển tế bào cũng như để hồi phục khu vực bị thương tổn. Sự tăng sinh 7 mạch máu có hai loại hình thành mạch, hình thành mạch và hình thành mạch chia tách.
Sự hình thành mạch chia tách là quá trình mạch mở rộng vào lòng mạch rồi bị tách làm đôi.3: Sự tăng sinh mạch máu [10]. Quá trình hình thành mạch bắt đầu khi cơ chế cảm nhận oxy ở các mô phát hiện thiếu oxy, các mô sẽ tiết ra yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF-A). Tế bào đỉnh nội mô, các tế bào ở đỉnh của mầm mạch có các thụ thể VEGF-A, phát triển thông qua ma trận mạch hướng tới VEGF-A. Phần màng mỏng ở tế bào đỉnh nội mô sẽ tiết ra các enzyme protease ví dụ như ma trận metalloproteinase (MMPs) phân hủy chất nền ngoại bào và màng đáy bao quanh tế bào nội mô.
Từ đó các tế bào nội mô sẽ xâm nhập và cố định vào lớp nền. Sau đó, các tế bào nội mô có cuống sẽ phát triển khiến mầm mao mạch dài ra. Các không bào phát triển và liên kết lại với nhau hình thành các lumen trong các tế bào có cuống. Khi các tế bào đỉnh của nhiều mao mạch hôi tụ tại nguồn tiết VEGF-A sẽ hợp nhất tạo thành thông đạo để cung cấp máu và oxy.
Pericyte hay còn gọi là tế bào mural sẽ gắn vào thành các mao mạch và ổn định mao mạch [11], [12]. Quá trình hình thành mạch chia tách bắt đầu với các tế bào nội mô xảy ra tiếp xúc với nhau, hai lớp nội mô bị xuyên thủng, cuối cùng pericyte và nguyên bào sợi sẽ xâm nhập và bao phủ tạo thành kẽ giữa hai mạch mới [13]. Tầm quan trọng của tăng sinh mạch máu trong điều trị ung thư Ung thư là sự phát triển một cách bất thường và nhanh chóng của các tế bào ung thư, vì vậy các khối u cần được cung cấp oxy và chất dinh dưỡng để phát triển và tăng trưởng cả về kích thước và số lượng tế bào.