Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoàng Mai với đề tài Tiểu thuyết Nhất Linh với việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn (chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 9220121, thực hiện tại Trường Đại học Vinh năm 2022 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phan Huy Dũng) tập trung giải quyết mối quan hệ tương tác giữa văn hóa và văn học qua trường hợp cụ thể của tác gia Nhất Linh.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng Tự lực văn đoàn là một tổ chức văn học mang tính chuyên nghiệp cao về tôn chỉ, kế hoạch và tổ chức trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Dù công cuộc đánh giá lại Tự lực văn đoàn và chủ soái Nhất Linh đã diễn ra mạnh mẽ từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, bức tranh nghiên cứu vẫn còn những khoảng trống do tính chất phức tạp của thời thế và cuộc đời tác giả. Các công trình trước đây phần lớn tập trung khai thác nội dung xã hội, phương diện con người hoặc sự hình thành của tiểu thuyết hiện đại, nhưng số lượng công trình nghiên cứu chuyên biệt về khát vọng khởi cuộc canh tân văn hóa - văn học thông qua tiểu thuyết dưới góc nhìn liên ngành còn hiếm hoi và chưa đạt quy mô bao quát.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba điểm chính:

  1. Đánh giá toàn diện những đóng góp của Nhất Linh cho nền văn hóa và văn học dân tộc; khẳng định Nhất Linh vừa là nhà văn vừa là nhà hoạt động xã hội trong việc hoạch định và thực thi kế hoạch canh tân văn hóa trên cơ sở giải quyết các vấn đề của cuộc giao lưu văn hóa Đông - Tây đầu thế kỷ XX.
  2. Khẳng định vai trò của tiểu thuyết trong việc định hình diện mạo mới cho văn học và tác động đến đời sống văn hóa đất nước.
  3. Khẳng định năng lực làm chủ thể loại tiểu thuyết của người chủ trương giương cao ngọn cờ văn hóa trong bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm năm nội dung:

  1. Khảo sát các khái niệm công cụ gồm tiểu thuyết, văn hóa, mối quan hệ biện chứng giữa văn học và văn hóa.
  2. Phân tích, đánh giá chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn.
  3. Xác định vị trí của tiểu thuyết trong di sản Tự lực văn đoàn và lý giải nguyên nhân thể loại này được chọn làm phương tiện sáng tác chủ đạo.
  4. Phân tích, đánh giá tiểu thuyết Nhất Linh về mặt nội dung nhằm làm rõ các vấn đề cốt lõi của nhiệm vụ canh tân văn hóa, văn học.
  5. Phân tích, đánh giá những đổi mới trong nghệ thuật tiểu thuyết Nhất Linh như hệ quả tất yếu của quá trình hiện thực hóa chủ trương canh tân.

Đối tượng nghiên cứu là đóng góp của tiểu thuyết Nhất Linh trong việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn. Phạm vi tư liệu tập trung vào 6 tiểu thuyết giai đoạn Tự lực văn đoàn, kết hợp khảo cứu các sáng tác giai đoạn trước và sau để đối chiếu.

STT Tên tác phẩm Năm hoàn thành / Đăng báo Năm xuất bản Ghi chú phạm vi khảo sát
1 Nắng thu Viết năm 1934 1942 Khảo sát trọng tâm
2 Đoạn tuyệt Đăng báo năm 1934 1935 Khảo sát trọng tâm
3 Đời mưa gió Hoàn thành năm 1934 1934 Viết chung với Khái Hưng, khảo sát trọng tâm
4 Lạnh lùng Đăng báo năm 1936 1937 Khảo sát trọng tâm
5 Đôi bạn Đăng báo năm 1938 1939 Khảo sát trọng tâm
6 Bướm trắng Đăng báo năm 1939 1940 - 1941 Khảo sát trọng tâm
7 Nho phong, Người quay tơ 1924, 1927 1926, 1927 Giai đoạn trước Tự lực văn đoàn, dùng đối chiếu mầm mống tư tưởng canh tân
8 Dòng sông Thanh Thủy, Xóm Cầu Mới Sau 1945 Sau 1945 Tiểu thuyết trường thiên giai đoạn sau, dùng làm tư liệu dẫn chiếu
9 Viết và đọc tiểu thuyết 1952 - 1961 1961 Tiểu luận lý luận, khảo sát ý thức nghề nghiệp của tác giả

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Nhất Linh và Tự lực văn đoàn qua bốn không gian và giai đoạn tiếp nhận:

Giai đoạn trước năm 1945, giới phê bình xem Nhất Linh là nhà tiểu thuyết luận đề gắn liền với cải tạo xã hội. Trương Chính trong Dưới mắt tôi (1939) phân tích Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Tối tăm và nhấn mạnh sợi dây liên lạc hướng đến mục đích cải tạo xã hội. Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) xếp Nhất Linh vào nhóm tiểu thuyết gia có khuynh hướng cải cách, tập trung trừ bỏ những tập tục xấu xa trong gia đình và xã hội. Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu cũng ghi nhận xu hướng xã hội của văn phái này. Ngoài ra, các bài viết của Nguyễn Lương Ngọc trên báo Tinh hoa (1937) khẳng định trách nhiệm cải tạo xã hội của Nhất Linh.

Giai đoạn 1954 - 1975 tại miền Nam, tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết (1961) của Nhất Linh được giới lý luận chú ý. Tràng Thiên trong Tiểu thuyết hiện đại (1963) so sánh quan niệm của Nhất Linh với Phạm Quỳnh. Doãn Quốc Sỹ trong Văn học và tiểu thuyết trích dẫn các ý kiến về cốt truyện, nhân vật và bối cảnh. Về phương diện cải tạo xã hội, Nguyễn Triệu Luật có bài Ý hướng cải tạo xã hội của Tự lực văn đoàn (1965) và Nguyễn Văn Xuân công bố chuyên khảo Từ phong trào Duy Tân đến Tự lực văn đoàn (1968), đánh giá mức độ ảnh hưởng của văn đoàn đối với giới trí thức.

Giai đoạn sau năm 1986, không khí Đổi mới thúc đẩy việc đánh giá lại di sản Nhất Linh. Phan Cự Đệ, Phong Lê, Hà Minh Đức đưa ra các nhìn nhận khách quan hơn về kết cấu, nghệ thuật trần thuật và khát vọng tự do của các nhân vật "khách chinh phu". Đỗ Đức Hiểu phân tích chất thơ và chất hội họa trong Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Bướm trắng. Nguyễn Huệ Chi chỉ ra sự chuyển biến từ tiểu thuyết luận đề sang phân tích tâm lý không cốt truyện (Đôi bạn) và yếu tố hiện sinh (Bướm trắng). Vu Gia thực hiện chuyên khảo Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa (1995) và bài viết Tự lực văn đoàn và một số ý tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ (2014). Văn Giá khảo sát đề tài cải cách thôn quê (2013). Trần Văn Toàn tiếp cận góc độ giới tính và tính dục qua Đoạn tuyệt và Lạnh lùng. Phạm Thị Phương đối chiếu Bướm trắng với các tác phẩm của Albert Camus, Dazai Osamu và F. Dostoievsky. Nhóm nghiên cứu của Đoàn Ánh Dương, Nguyễn Minh Huệ, Vũ Thị Thanh Loan, Đào Thị Hải Thanh công bố các tài liệu nghiên cứu trên báo chí trong Phong Hóa hiện đại (2020) và Phụ nữ Tự lực văn đoàn với vấn đề phụ nữ ở nước ta (2021).

Ở phạm vi quốc tế và hải ngoại, các bài viết của Võ Phiến (Văn học Miền Nam Tổng quan, 1999), Thụy Khuê (Tự lực văn đoàn - Văn học và cách mạng), Đặng Tiến, Nguyễn Hưng Quốc đã phân tích chiều sâu triết lý và nghệ thuật tiểu thuyết. Các học giả nước ngoài như Stephen O'Harrow (1968), Neil Jamison (Understanding Vietnam, 1993) và Maria Strasakova với luận án tiến sĩ Life and Writing of Nguyen Tuong Tam (2011 tại Đại học Karlova, CH Séc) đã vận dụng lý thuyết Tân duy sử (New Historicism) để tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của tác giả.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là xây dựng hệ thống phân tích liên ngành văn hóa - văn học ở quy mô toàn diện. Luận án đặt tiểu thuyết Nhất Linh trong hai cấp độ: cấp độ chỉnh thể hoạt động canh tân rộng lớn của Tự lực văn đoàn (báo chí, xuất bản, hoạt động xã hội) và cấp độ đi sâu vào văn bản tiểu thuyết để chứng minh quá trình hiện thực hóa chủ trương canh tân trên cả phương diện tư tưởng lẫn đổi mới thi pháp nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án thiết lập hệ thống lý luận dựa trên ba trụ cột chính:

  • Lý luận về thể loại tiểu thuyết: Luận án tiếp thu quan điểm của M. Bakhtin về tiểu thuyết như một thể loại luôn biến đổi, gắn liền với thời đại mới; tiếp thu quan điểm của Iu. Tynianov về tính hệ thống thể loại; tổng hợp tiến trình tiểu thuyết phương Tây từ trung cổ, Phục hưng, Khai sáng đến thế kỷ XIX - XX. Đồng thời, tác giả khảo sát các quan niệm tiểu thuyết tại Việt Nam từ Nông cổ mín đàm (Trần Chánh Chiếu, 1906), Hồ Biểu Chánh, Phạm Quỳnh (Bàn về tiểu thuyết), Thạch Lam (Theo giòng) đến quan niệm của chính Nhất Linh trong Viết và đọc tiểu thuyết (đề cao tính khách quan, nguyên lý tả thực, nhân vật đa chiều, ngôn ngữ trong sáng).
  • Lý luận về văn hóa và mối quan hệ văn hóa - văn học: Tiếp cận định nghĩa văn hóa của Edward Tylor (Primitive Culture, 1871), UNESCO, Hồ Chí Minh, Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm. Luận án vận dụng quan điểm của Đỗ Lai Thúy, Trần Đình Sử, A. Gurevich, I. Lisevich và đặc biệt là khung phân tích của Phạm Vĩnh Cư (tiếp thu từ Iu. Lotman và M. Bakhtin) với ba hệ chỉnh thể liên đới: hệ chỉnh thể văn hóa thời đại gia tốc hiện đại hóa 1932 - 1945 (hệ nền), hệ chỉnh thể văn học Tự lực văn đoàn, và hệ chỉnh thể tác phẩm Nhất Linh.
  • Lý luận về sự canh tân văn học: Luận án phân biệt rõ các cấp độ từ vựng: "canh tân" (chuyển động thay đổi căn bản hệ hình có quy mô rộng theo lối tiệm tiến), "cách tân" (đổi mới ở từng phương diện cụ thể như thể loại, phương pháp sáng tác) và "phá cách" (thao tác cục bộ, không theo lề lối có sẵn). Luận án áp dụng quan niệm của Trần Ngọc Vương về năm thành tố cấu thành hệ hình văn học (tư tưởng thẩm mỹ, chủ đề - đề tài, hình tượng cơ bản, hệ thống thể loại, ngôn ngữ văn học); đồng thời tiếp nối tư tưởng Duy Tân của Phan Chu Trinh ("khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh").

Hệ thống phương pháp nghiên cứu gồm sáu phương pháp:

  1. Phương pháp liên ngành (văn hóa - văn học): Phân tích mối quan hệ giữa các điều kiện văn hóa xã hội với quá trình sáng tác tiểu thuyết.
  2. Phương pháp loại hình học: Định vị các sáng tác của Nhất Linh vào đúng loại hình thể loại tiểu thuyết hiện đại.
  3. Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Đặt tác phẩm vào tiến trình vận động của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
  4. Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Khảo sát hệ thống phương thức nghệ thuật, kết cấu trần thuật và quan niệm nghệ thuật về con người.
  5. Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét chỉnh thể các mối liên hệ giữa chủ trương của tổ chức và văn bản nghệ thuật cụ thể.
  6. Phương pháp so sánh: Đối chiếu tiểu thuyết Nhất Linh với các tác giả ngoài Tự lực văn đoàn và so sánh sự vận động qua từng giai đoạn sáng tác của chính tác giả.

Nguồn dữ liệu khảo sát là toàn bộ văn bản 6 tiểu thuyết chính, các bài báo trên Phong Hóa, Ngày Nay, tập tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết cùng các tư liệu lưu trữ của Tự lực văn đoàn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết của luận án và tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này hoàn thiện khung lý thuyết công cụ và tổng thuật lịch sử nghiên cứu. Tác giả luận giải cơ sở bản chất của tiểu thuyết như một thể loại mang chức năng nhận thức và tái tạo đời sống; chỉ ra mối liên hệ hữu cơ giữa môi trường văn hóa với sự chuyển dịch hệ hình văn học từ trung đại sang hiện đại. Chương 1 khẳng định rằng việc Tự lực văn đoàn và Nhất Linh chọn tiểu thuyết làm phương tiện canh tân là lựa chọn phù hợp với quy luật giao lưu văn hóa Đông - Tây và tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc giai đoạn 1932 - 1945.

Chương 2: Khái quát về chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn

Chương 2 tập trung phân tích bối cảnh lịch sử và cơ sở hình thành tổ chức:

  • Những nhân tố thúc đẩy sự ra đời của Tự lực văn đoàn: Sự tiếp xúc văn hóa Đông - Tây, sự thất bại của hệ tư tưởng phong kiến, sự bãi bỏ khoa thi Hán học (1919), sự mở rộng của đô thị và báo chí chữ Quốc ngữ; nhu cầu thoát ly tư duy cử tử để tiếp nhận tinh thần khoa học và văn minh phương Tây.
  • Tôn chỉ và chương trình hoạt động: Luận án phân tích 10 điều tôn chỉ của Tự lực văn đoàn, các hoạt động thực tế qua việc điều hành báo Phong Hóa, Ngày Nay, nhà xuất bản Đời Nay, phong trào cải cách trang phục (áo dài Le Mur), phong trào Ánh Ánh và Hội Ánh Sáng (cải cách nhà ở thôn quê).
  • Ưu thế và vai trò của thể loại tiểu thuyết: So với thơ ca hay phóng sự, tiểu thuyết là thể loại có dung lượng phản ánh lớn, khả năng tiếp cận rộng rãi mọi tầng lớp công chúng, có khả năng diễn giải các xung đột xã hội sâu sắc, từ đó trở thành phương tiện chủ lực truyền tải các nội dung canh tân văn hóa.

Chương 3: Những vấn đề lớn của nhiệm vụ canh tân văn hóa, văn học được thể hiện trong tiểu thuyết Nhất Linh

Chương 3 khảo sát phương diện nội dung tư tưởng của tiểu thuyết Nhất Linh qua ba luận điểm lớn:

  • Truyền bá những yếu tố tích cực của văn minh phương Tây: Tác phẩm khẳng định quyền sống của cái tôi cá nhân, đòi quyền tự do yêu đương và hôn nhân (Đoạn tuyệt, Lạnh lùng); đề cao tinh thần dân chủ, tôn trọng quyền bình đẳng của phụ nữ; xây dựng ý thức trách nhiệm cộng đồng và tinh thần dấn thân của tầng lớp thanh niên trí thức (Đôi bạn).
  • Thực hiện việc tổng hợp văn hóa hướng tới tinh thần hiện đại: Tác giả một mặt đả phá các thiết chế gia đình phụ quyền và hủ tục phong kiến đè nén con người, mặt khác trân trọng những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp; cổ vũ tinh thần giải phóng cá nhân nhưng đồng thời cảnh báo những biểu hiện nổi loạn cực đoan, buông thả bản năng (Đời mưa gió); phác thảo mô hình tổ chức xã hội văn minh và cải cách đời sống thôn quê.
  • Xây dựng mô hình tiểu thuyết hiện đại và ngôn ngữ văn học chuẩn mực: Xác lập tính khách quan của người kể chuyện, hạn chế sự can thiệp chủ quan theo lối giáo huấn luân lý kiểu cũ; xây dựng nguyên tắc sử dụng tiếng Việt trong sáng, gãy gọn, loại bỏ tính chất biền ngẫu, sáo rỗng.

Chương 4: Hệ quả việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn trong nghệ thuật tiểu thuyết Nhất Linh

Chương 4 phân tích sự biến đổi sâu sắc về mặt thi pháp và nghệ thuật tự sự:

  • Khám phá những xung đột nghệ thuật mới: Vượt qua các kiểu xung đột thiện - ác quy ước thời trung đại, tiểu thuyết Nhất Linh tập trung vào xung đột gia đình (mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu, giữa nề nếp gia tộc cũ và lối sống cá nhân mới trong Đoạn tuyệt), xung đột giữa cá nhân và xã hội, và xung đột nội tâm của con người phân thân, không trùng khít với chính mình (Bướm trắng).
  • Xây dựng hệ thống hình tượng nhân vật mới: Luận án định vị ba kiểu nhân vật tiêu biểu:
    1. Hình tượng nhân vật nổi loạn: Những nhân vật dám đứng lên chống lại khuôn phép gia đình cổ hủ để đòi quyền sống (Loan trong Đoạn tuyệt, Nhung trong Lạnh lùng).
    2. Hình tượng con người phụng sự lý tưởng: Những thanh niên trí thức mang tâm trạng "khách chinh phu", khao khát hoạt động xã hội và canh tân đất nước (Dũng, Thái trong Đôi bạn).
    3. Hình tượng "con người thất bại": Những cá nhân mang tâm trạng bế tắc, phân rã ý thức và khủng hoảng hiện sinh trước thực tại (Trương trong Bướm trắng).
  • Hình thành ngôn ngữ tiểu thuyết mới: Đa dạng hóa các bè ngôn ngữ tự sự; phát triển ngôn ngữ tạo hình giàu chất hội họa; xây dựng ngôn ngữ phân tích tâm lý và độc thoại nội tâm tinh tế, đưa tiếng Việt đạt chuẩn mực của văn xuôi nghệ thuật hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ ra các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới gồm:

  • Về mặt tư liệu và lịch sử văn học: Luận án hệ thống hóa và cập nhật các nguồn tư liệu mới về hoạt động của Tự lực văn đoàn; làm sáng tỏ tính chỉnh thể nhất quán giữa hoạt động văn hóa - xã hội thực tế và hoạt động sáng tác văn chương của Nhất Linh.
  • Về mặt lý luận thể loại: Luận án khẳng định vai trò của Nhất Linh trong việc hoàn thiện mô hình tiểu thuyết hiện đại Việt Nam, từ hình thức tiểu thuyết luận đề xã hội chuyển dần sang tiểu thuyết tâm lý và tiểu thuyết mang màu sắc hiện sinh, tạo lập nền tảng cho sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật giai đoạn tiếp sau.
  • Đúc kết quy luật lịch sử - văn hóa: Luận án khẳng định quy luật để đạt tới tự do và văn minh, con đường căn bản là khai dân trí và thức tỉnh ý thức cá nhân; trong đó văn hóa giữ vai trò định hướng và văn học, đặc biệt là tiểu thuyết, đóng vai trò công cụ nhận thức và giải phóng con người.
  • Về mặt giải pháp học thuật: Đề xuất phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa - văn học như một hướng đi thích hợp nhằm đánh giá khách quan các hiện tượng văn học có tính chất phức tạp trong thời kỳ giao thời.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt phạm vi, luận án giới hạn đối tượng khảo sát trọng tâm vào 6 tiểu thuyết thuộc thời kỳ Tự lực văn đoàn (1934 - 1941), các sáng tác trước đó (Nho phong, Người quay tơ) và các tiểu thuyết trường thiên sau năm 1945 (Dòng sông Thanh Thủy, Xóm Cầu Mới) chỉ được khai thác ở mức độ dẫn chiếu so sánh.

Hướng nghiên cứu tiếp nối có thể mở rộng khảo sát toàn diện tiến trình sáng tác của Nhất Linh ở giai đoạn sau năm 1945 để thấy trọn vẹn sự biến chuyển thi pháp tiểu thuyết của ông trong bối cảnh lịch sử mới; đồng thời có thể áp dụng mô hình liên ngành văn hóa - văn học này để khảo cứu các tác giả trụ cột khác của Tự lực văn đoàn như Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam.

Giá trị tham khảo

Luận án là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và Văn hóa học trong việc nghiên cứu tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc nửa đầu thế kỷ XX.
  • Giáo viên ngữ văn các cấp trong việc giảng dạy, phân tích các tác phẩm của văn phái Tự lực văn đoàn và tác gia Nhất Linh trong chương trình giáo dục phổ thông và đại học.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng, văn hóa quan tâm đến phong trào canh tân xã hội và sự chuyển biến ý thức hệ của tầng lớp trí thức Việt Nam thời kỳ thuộc địa.

Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 3 và Chương 4, nơi cung cấp các dẫn chứng chi tiết và hệ thống hóa thi pháp tiểu thuyết Nhất Linh từ điểm nhìn văn hóa học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát chuyên sâu những tiểu thuyết nào của Nhất Linh? Luận án tập trung khảo sát 6 tiểu thuyết thuộc thời kỳ Tự lực văn đoàn: Nắng thu (viết 1934, xuất bản 1942), Đoạn tuyệt (đăng báo 1934, xuất bản 1935), Đời mưa gió (viết chung với Khái Hưng, xuất bản 1934), Lạnh lùng (đăng báo 1936, xuất bản 1937), Đôi bạn (đăng báo 1938, xuất bản 1939), và Bướm trắng (đăng báo 1939, xuất bản 1940 - 1941).

2. Quan niệm lý luận tiểu thuyết của Nhất Linh được khảo cứu chủ yếu từ công trình nào? Quan niệm lý luận của Nhất Linh được khảo sát chính qua tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết (viết trong giai đoạn 1952 - 1961, xuất bản năm 1961 tại Nhà xuất bản Đời Nay, Sài Gòn), thể hiện các nguyên tắc: không biến tiểu thuyết thành công cụ luân lý giáo điều, tôn trọng tính khách quan của hiện thực, xây dựng nhân vật đa chiều và sử dụng ngôn ngữ văn học giản dị, trong sáng.

3. Khung phân tích liên ngành của luận án vận dụng ba hệ chỉnh thể nào? Luận án áp dụng khung phân tích ba hệ chỉnh thể liên đới: hệ chỉnh thể văn hóa thời đại gia tốc hiện đại hóa 1932 - 1945 (giữ vai trò hệ nền), hệ chỉnh thể văn học Tự lực văn đoàn, và hệ chỉnh thể tác phẩm tiểu thuyết của Nhất Linh.

4. Ba kiểu hình tượng nhân vật mới được chỉ ra trong tiểu thuyết Nhất Linh là gì? Ba kiểu hình tượng nhân vật mới gồm: hình tượng nhân vật nổi loạn chống lại nề nếp phong kiến (Đoạn tuyệt, Lạnh lùng); hình tượng con người phụng sự lý tưởng xã hội mang tâm thế "khách chinh phu" (Đôi bạn); và hình tượng "con người thất bại" mang tâm trạng khủng hoảng, phân thân hiện sinh (Bướm trắng).

5. Luận án phân biệt khái niệm "canh tân" với "cách tân" và "phá cách" như thế nào? "Canh tân" là sự chuyển động thay đổi căn bản hệ hình ý thức ở quy mô rộng lớn theo con đường tiệm tiến, cải biến dần trên nền cái cũ; "cách tân" là sự đổi mới ở từng phương diện cụ thể (thể loại, phương pháp sáng tác); còn "phá cách" là những thao tác cục bộ, phá bỏ quy cách sẵn có trong phạm vi hẹp.

Kết luận

Luận án của Nguyễn Thị Hoàng Mai đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn qua tiểu thuyết Nhất Linh. Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa - văn học, công trình đã làm sáng tỏ mối liên hệ giữa tư tưởng cải biến xã hội và sự đổi mới thi pháp tiểu thuyết hiện đại. Công trình khẳng định vị trí của Nhất Linh như một nhà văn gắn liền với sứ mệnh khai dân trí và canh tân thẩm mỹ trong tiến trình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Toàn bộ các kết luận nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở phân tích văn bản xác thực và hệ thống lý luận khoa học chặt chẽ.