Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tiền đề lý luận và các khái niệm cơ sở của luận án 1. Lý luận về tiểu thuyết Tiểu thuyết là một trong những thể loại quan trọng nhất của văn chương hiện đại. Mặc dù đã có mầm mống từ thời cổ đại nhưng tiểu thuyết (giới hạn ở mô hình tiểu thuyết phương Tây) chỉ thực sự nở rộ vào thế kỉ XIX ở Châu Âu với những tên tuổi như Stendhal, Émile Zola, Honoré de Balzac, William Thackeray, Charles Dickens, Nikolay Gogol, Ivan Turgenev, Lev Tolstoy, Fedor Dostoyevsky… Xét theo thực tế này, có thể khẳng định tiểu thuyết là thể loại sinh sau đẻ muộn.
Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của tiểu thuyết, có thể thấy cùng với sự biến đổi trong nội dung “phản ánh” qua các thời kì là sự thay đổi trong quan niệm về thể loại. Các nhà lý luận hàn lâm cũng như các tiểu thuyết gia từ Tây sang Đông đều đã đưa ra các khái niệm của mình về tiểu thuyết. Ở Việt Nam, đến đầu thế kỷ XX, cùng với quá trình hình thành nền văn xuôi Quốc ngữ, tiểu thuyết mới trở thành một thể loại tiên phong. Nhưng vì đây là một thể loại mới du nhập từ phương Tây với một diện mạo hoàn toàn khác nên các nhà lý luận, các nhà văn thời kỳ ấy đã gặp nhiều lúng túng khi cố xây dựng một khái niệm thống nhất.
Mặc dù vậy, họ cũng đã cố gắng giải thích để định hướng việc tiếp nhận của người đọc. Những giải thích ấy tuy còn đơn giản, sơ lược nhưng đã tạo được cơ sở ban đầu tương đối vững chắc cho lý luận về tiểu thuyết ở Việt Nam. Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một số quan niệm tiêu biểu: Báo Nông cổ mín đàm do Trần Chánh Chiếu làm chủ bút số ra ngày 23/10/1906 đã khởi xướng cuộc thi viết tiểu thuyết đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam với quan niệm về tiểu thuyết như sau: “Người Lang Sa gọi là Roman nghĩa là lấy trí riêng mình mà đặt ra một truyện tùy theo nhân vật phong tục trong xứ, dường như truyện có thiệt vậy”. Và một yêu cầu đặt ra trong thể lệ là “Đặt tiếng thường, thanh nhã, dễ hiểu như truyện vậy” [124, tr.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Hồ Biểu Chánh cũng đã nói về con đường đến với tiểu thuyết của mình xuất phát từ một suy nghĩ thật đơn giản: “Thầm nghĩ, người mình mà biết truyện bên Tàu không bổ ích cho bằng biết truyện trong nước mình” [124, tr. “Truyện trong nước mình” ở đây là những gì xảy ra trong đời thường, gắn liền với hiện tại chứ không phải là những chuyện tài tử giai nhân hay chuyện xưa tích cũ như trong tiểu thuyết Trung Hoa. Trong Bàn về tiểu thuyết, Phạm Quỳnh đã nêu định nghĩa: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự lạ tích kì, đủ làm cho người đọc có hứng thú” [124, tr.125] hoặc như một diễn ngôn nôm na “tiểu thuyết là một truyện bịa đặt mà có thú vị” [124, tr. “Bịa đặt” ở đây theo Phạm Quỳnh là sự “bịa đặt” từ những hoàn cảnh thực.
Với tư cách là nhà phê bình văn học hiện đại đầu tiên của Việt Nam, quan niệm của Phạm Quỳnh đã bao quát được những đặc điểm và vấn đề quan trọng nhất của thể loại tiểu thuyết như kết cấu, lối văn tự sự, hư cấu sáng tạo… Chính vì thế, công trình này của ông đã có ảnh hưởng lớn đến nhiều cây bút đương thời. Hầu hết các nghiên cứu, bình khảo về tiểu thuyết Việt Nam những năm 20, 30 của thế kỷ XX đều ít nhiều chịu ảnh hưởng từ Bàn về tiểu thuyết của ông. Chẳng hạn, Thạch Lam trong Theo giòng cũng có nhận định gần giống với chủ bút Nam phong tạp chí: “Tiểu thuyết là một câu chuyện sắp đặt, một sáng tác của trí tưởng tượng” song nó đòi hỏi phải “hết sức gần sự sống để được linh hoạt và thật như cuộc đời” [124, tr. Trong tiểu luận Theo giòng Thạch Lam đã đề cập đến những phương diện cơ bản của thể loại như nhà văn - chủ thể sáng tạo, nhân vật - yếu tố cốt lõi của tiểu thuyết và bạn đọc - người tiếp nhận.
Ở mỗi phương diện, Thạch Lam đều có những nhận định xác đáng và gần gũi với các nhà lý luận phương Tây. Chính vì thế ông được coi là “một trong những người sớm nhận ra một đặc điểm quan trọng của nhân vật tiểu thuyết: nội dung nhân vật không trùng khít với địa vị xã hội và tính cách xã hội của nhân vật” [61, tr. Có thể thấy, Thạch Lam ngoài sự kế thừa từ Phạm Quỳnh, đã có quan niệm về tiểu thuyết rất tiến bộ, hiện đại và đến nay vẫn còn phù hợp. Ngày nay, qua một thời gian dài phát triển, về khái niệm, tiểu thuyết đã được hiểu như một thể loại của văn chương hiện đại với những đặc điểm cơ bản sau đây: Về hình thức, đó là tác phẩm văn xuôi tự sự có quy mô lớn; Về thể tài, đó là câu chuyện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thế sự, đời tư của cá nhân trong mối quan hệ rộng lớn với xã hội, tập trung vào một (hoặc một vài) nhân vật trong quá trình hình thành và phát triển cá tính của nó; Về phương thức tường thuật, người trần thuật cần giữ thái độ khách quan, khoảng cách với nhân vật; Về ngôn ngữ, gần với lời ăn tiếng nói thường ngày nhưng bảo đảm được tính thẩm mỹ.
Tiểu thuyết Nhất Linh xuất hiện vào lúc văn xuôi hiện đại Việt Nam mới có những thể nghiệm ban đầu, tuy có thành tựu đáng kể nhưng không đáp ứng được tất cả các tiêu chí nêu trên. Tuy nhiên, bằng sự nhạy bén của mình, nhà văn đã nhận thấy vị trí quan trọng của tiểu thuyết trong tiến trình văn học cũng như vai trò của nó trong quá trình canh tân văn hoá, văn học. Bakhtin đề cao “thể loại”, tuyên bố nó là “nhân vật chính của tiến trình văn học” [13, tr.28], trong hệ thể loại ông chỉ ra tiểu thuyết có vai trò hàng đầu trong việc dựng tiến trình văn học: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực. Chỉ kẻ biến đổi mới hiểu được sự biến đổi.
Tiểu thuyết sở dĩ đã trở thành nhân vật chính trong tấn kịch phát triển văn học thời đại mới, bởi vì nó là thể loại duy nhất do thế giới mới ấy sản sinh ra và đồng chất với thế giới ấy về mọi mặt. Tiểu thuyết về nhiều phương diện đã và đang báo trước sự phát triển tương lai của toàn bộ nền văn học. Từ ý kiến của M. Bakhtin, thử lướt nhìn lại hành trình tiểu thuyết từ dạng sơ khai đến hình thức phồn tạp hôm nay, để thấy quả thật đây là thể loại luôn “phản ánh sâu sắc hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực”, nó đặt ra những cột mốc cơ bản của tiến trình nghệ thuật, của quá trình hiện đại hóa văn học thế giới và văn học mỗi dân tộc.
Nền văn hóa châu Âu thời trung cổ sơ kỳ và thời Roman (từ giữa thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIII) nảy sinh trên cơ sở văn minh La Mã và sự tiếp nhận tôn giáo Cơ đốc, dần hình thành dòng văn chương quý tộc. Trên nền móng hình thái tư duy cổ trung đại, khi mà cảm hứng về cái anh hùng, cái cá biệt là chủ đạo, hình thức thích hợp cho thể loại là tiểu thuyết hiệp sĩ, ví dụ Tristan và Iseut. Với dạng sơ khai này, tiểu thuyết hiếm khi lấy con người cá nhân để làm cảm hứng, mà chủ yếu gắn với cái chung, cái anh hùng, cái phi thường, cái cao nhã, gần với thi ca. Thời kỳ Phục hưng châu Âu diễn ra trong các thế kỷ XV - XVI, được bắt đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 bằng việc khám phá lại về con người.
Khi con người trở thành cảm hứng chủ đạo, tiểu thuyết như một phương tiện thể hiện tư tưởng nhân văn đã ít đi tìm cái phi thường mà đã hướng nhiều hơn đến đời sống hiện thực, cái nhìn đa diện hơn, giọng điệu nhiều sắc thái, có cả bi cả hài, cả cao nhã lẫn thông tục. Ví dụ cho cách tiếp cận mới này là Cuộc đời của Lasarillo Tormes (1554) của tác giả vô danh người Tây Ban Nha, kể về những khó khăn trắc trở của chàng trai bình dân nghèo khổ. Ở Anh quốc, cũng trong chiều chuyển biến đó là Người du hành bất hạnh, hay Cuộc đời của Jack Wilton (1594) của Nash. Đáng kể hơn cả là Don Quixote xứ Mancha (1615) của Miguel de Cervantes - một hình thức mới để từ đó sẽ bắt đầu phát triển tiểu thuyết hiện thực.
Tác phẩm này chế nhạo tiểu thuyết hiệp sĩ đã lỗi thời, hướng đến thực tế cuộc sống. Bước sang thời Khai sáng (thế kỷ XVIII), tiểu thuyết lập tức chứng tỏ mình là phương tiện thích hợp và đắc dụng hơn cả trong việc cổ súy tư tưởng thời đại. Đặc điểm nổi bật thời Khai sáng là hướng đến tri thức, đưa chúng vào đời sống xã hội. Tiểu thuyết giáo dục, tiểu thuyết luận đề ra đời.
Tác phẩm Cuộc đời và những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Robinson Crusoe (1719) của Daniel Defoe như một bài học về khả năng tương tác của con người với xã hội, với thiên nhiên, dạy người ta biết ứng xử, kiên trì và lạc quan trong những hoàn cảnh ngặt nghèo. Jean-Jacques Rousseau trong Julie hay nàng Heloise mới (1761), Émile hay là về giáo dục (1762) bộc lộ trực diện quan điểm về giáo dục công dân. Bên cạnh đó, với phong cách thể hiện mới, những cuốn sách này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn học tiền lãng mạn và văn học lãng mạn, cũng như hình thức tiểu thuyết luận đề. Thế kỷ XIX được ví như kỷ nguyên của tư tưởng và ngôn ngữ, là giai đoạn cực thịnh của tiểu thuyết cổ điển.
Thể loại này đạt mức kinh điển ở mọi phương diện: ngôn từ, cốt truyện, phân tích tâm lý. Đây cũng là thời kỳ đặt ra ráo riết hơn ý thức trách nhiệm của con người đối với xã hội, với sáng tạo. Với nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa lãng mạn, Victor Hugo đã cho thấy sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, của ánh sáng trước bóng tối trong các tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris, Những người khốn khổ, Thằng cười. Các nhà văn hiện thực chủ nghĩa Stendhal, H.
mở rộng khuôn khổ cốt truyện, phân cảnh, tình tiết.