Tổng quan luận án
Luận án Tiểu thuyết Nhất Linh với việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn do Nguyễn Thị Hoàng Mai thực hiện năm 2022 tại Trường Đại học Vinh, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phan Huy Dũng.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu. Tác giả xác định khoảng trống từ hai hướng: (1) Tuy đã có nhiều công trình về Nhất Linh và Tự lực văn đoàn, nhưng "số lượng công trình nghiên cứu chuyên biệt về khát vọng khởi cuộc canh tân văn hóa của Tự lực văn đoàn nói chung và của Nhất Linh nói riêng, thông qua sáng tác văn học, nhất là tiểu thuyết, còn khá hiếm hoi và chưa đạt mức bề thế"; (2) Giới nghiên cứu trước đây tập trung vào nội dung xã hội và đóng góp thể loại của Nhất Linh mà "chưa thật sự chú ý đánh giá toàn diện vai trò và những đóng góp của Nhất Linh ở điểm giao thoa giữa văn hóa và văn học trong một bối cảnh phát triển đặc biệt của đất nước."
Mục đích nghiên cứu gồm ba điểm tác giả xác định rõ: (1) Đánh giá toàn diện đóng góp của Nhất Linh cho văn hóa, văn học dân tộc; khẳng định ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà hoạt động xã hội trong việc định ra kế hoạch canh tân văn hóa giai đoạn giao lưu Đông – Tây đầu thế kỷ XX; (2) Khẳng định vai trò đặc biệt của tiểu thuyết trong việc tạo nên bộ mặt mới của nền văn học và thổi khí sắc mới vào nền văn hóa đất nước; (3) Khẳng định khả năng làm chủ công cụ tiểu thuyết của người tự nhận lĩnh sứ mệnh phất cao ngọn cờ văn hóa trong bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Đối tượng và phạm vi. Đối tượng nghiên cứu là đóng góp của tiểu thuyết Nhất Linh trong việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn. Phạm vi tư liệu khảo sát tập trung vào sáu tiểu thuyết thuộc giai đoạn Tự lực văn đoàn: Nắng thu (viết 1934, xuất bản 1942), Đoạn tuyệt (đăng báo 1934, xuất bản 1935), Đời mưa gió (Nhất Linh viết chung với Khái Hưng, xuất bản 1934), Lạnh lùng (đăng báo 1936, xuất bản 1937), Đôi bạn (đăng báo 1938, xuất bản 1939), Bướm trắng (đăng báo 1939, xuất bản 1940–1941). Các tác phẩm trước Tự lực văn đoàn như Nho phong (1924) và Người quay tơ (1927) được tham chiếu để truy dấu sự manh nha tư tưởng canh tân. Tập tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết (1952–1961) được khảo sát bổ sung để làm rõ ý thức nghề nghiệp của nhà văn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Nghiên cứu quan niệm của Nhất Linh về tiểu thuyết. Giai đoạn miền Nam (1954–1975), tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết (Nxb Đời Nay, Sài Gòn, 1961) của Nhất Linh nhận được sự chú ý của Tràng Thiên (Tiểu thuyết hiện đại, 1963), Doãn Quốc Sỹ (Văn học và tiểu thuyết) và Nguyễn Văn Trung, song các tác giả này chỉ trích dẫn một số ý kiến của Nhất Linh để làm rõ quan niệm riêng của mình, không đi sâu nghiên cứu hệ thống.
Nghiên cứu vị trí và đặc điểm tiểu thuyết Nhất Linh. Trước 1945, hầu hết giới phê bình định danh ông là "tiểu thuyết gia luận đề": Trương Chính (Dưới mắt tôi, 1939) phân tích Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Tối tăm như những tác phẩm có sứ mệnh cải tạo xã hội; Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại, Nxb Tân Dân, 1942) nhìn Nhất Linh là "tiểu thuyết gia có khuynh hướng cải cách"; Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) xếp ông vào nhóm "khuynh hướng xã hội". Nguyễn Lương Ngọc trên báo Tinh hoa số 3 ngày 27/3/1937 nhận xét về hành trình nghệ thuật "đi dần dần tới sự đơn giản hoàn mĩ" từ Nho phong đến Lạnh lùng. Trương Tửu phê phán nội dung "suy đồi" trong Lạnh lùng và Đời mưa gió từ lập trường bảo vệ đạo đức gia đình.
Thời kỳ Đổi mới, nghiên cứu Nhất Linh được nối lại. Vu Gia trong Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học (Nxb Văn hóa, 1995) tiếp cận dưới góc độ văn hóa – văn học. Nguyễn Hưng Quốc đánh giá Tự lực văn đoàn trên năm phương diện hiện đại hóa, nhấn mạnh vai trò của Bướm trắng như tác phẩm Nhất Linh "hài lòng nhất". Đặng Tiến (Pháp) và Thụy Khuê phát hiện "dáng dấp hiện sinh" trong Bướm trắng, đặt tác phẩm đối chiếu với André Gide (L'Immoraliste, 1902), Albert Camus (L'Etranger, 1942) và Trang Tử. Phạm Thị Phương khẳng định Bướm trắng là "đỉnh cao nghệ thuật của Nhất Linh" qua so sánh với Dazai Osamu và Dostoievsky.
Ở nước ngoài, đáng chú ý có luận án tiến sĩ của Maria Strasakova, Life and Writing of Nguyen Tuong Tam (Đại học Karlova, Prague, 2011), 346 trang, tiếp cận theo lý thuyết Tân duy sử (New Historicism); Stephen O'Harrow có bài "Some Background Notes on Nhat Linh" (France-Asie/Asia, vol.193, 1968); Neil Jamison có Understanding Vietnam (University of California Press, 1993).
Nghiên cứu về hiện thực hóa chủ trương canh tân. Đây là hướng còn thưa. Nguyễn Triệu Luật trong bài "Ý hướng cải tạo xã hội của Tự lực văn đoàn" (Văn học, số 41, 1/7/1965) và Nguyễn Văn Xuân trong "Từ phong trào Duy Tân đến Tự lực văn đoàn" (Văn, số 107+108, 1968) đều khảo sát khái quát, không phân tích vai trò cụ thể của tiểu thuyết. Trương Chính ("Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn", Văn học, số 5/1990) và Trần Văn Toàn ("Giới tính và nghiên cứu văn học: trường hợp Đoạn tuyệt") tiếp cận một khía cạnh cụ thể. Gần đây, công trình tập thể Phong Hóa hiện đại – Tự lực văn đoàn trong tình thế thuộc địa ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 (Đoàn Ánh Dương và cộng sự, Nxb Hội Nhà văn, 2020) cung cấp nhiều tư liệu gốc.
Khoảng trống luận án lựa chọn. Luận án triển khai nghiên cứu liên ngành văn hóa – văn học ở hai cấp độ song song: bao quát phạm vi canh tân của cả nhóm Tự lực văn đoàn và đi sâu phân tích tiểu thuyết Nhất Linh, nhằm chỉ ra cách thức tiểu thuyết hiện thực hóa tôn chỉ canh tân trên cả nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật thể loại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết. Luận án vận dụng ba hệ lý luận: (1) Lý luận về tiểu thuyết – từ M. Bakhtin (tiểu thuyết là "thể loại văn chương duy nhất luôn luôn biến đổi") và Iu. Tynianov đến các quan niệm của Phạm Quỳnh (Bàn về tiểu thuyết), Thạch Lam (Theo giòng) và chính Nhất Linh (Viết và đọc tiểu thuyết, 1961). (2) Lý luận về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa – dựa trên định nghĩa văn hóa của E. Tylor (Primitive Culture, 1871), Hữu Ngọc (Lãng du trong văn hóa Việt Nam), Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm, Hồ Chí Minh; khung ba hệ chỉnh thể liên đới của Phạm Vĩnh Cư (hệ chỉnh thể văn hóa – hệ chỉnh thể văn học – hệ chỉnh thể tác phẩm) và công trình của A. Gurevich; quan điểm của Trần Đình Sử về "vai trò sáng tạo văn hóa của văn học"; nghiên cứu của Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn. (3) Lý luận về canh tân văn học – phân biệt ba cấp độ "canh tân (更新)", "cách tân (革新)" và "phá cách (破格)"; khái niệm "thay đổi hệ hình (paradigm)" theo Trần Ngọc Vương với năm thành tố: hệ tư tưởng thẩm mỹ, hệ chủ đề – đề tài, hệ hình tượng, hệ thể loại, ngôn ngữ văn học.
Phương pháp. Luận án sử dụng phối hợp năm phương pháp: phương pháp liên ngành (phân tích mối quan hệ văn hóa – văn học), phương pháp loại hình học (đặt sáng tác Nhất Linh vào đúng loại hình tiểu thuyết), phương pháp nghiên cứu lịch sử (đặt tác phẩm trong bối cảnh vận động văn học Việt Nam), phương pháp tiếp cận thi pháp học (xem xét tính hệ thống của phương thức và phương tiện nghệ thuật), phương pháp cấu trúc – hệ thống và phương pháp so sánh (đối chiếu Nhất Linh với các nhà tiểu thuyết đương thời và các giai đoạn sáng tác của bản thân ông).
Nguồn tư liệu. Văn bản gốc sáu tiểu thuyết giai đoạn Tự lực văn đoàn; tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết (1961); tư liệu báo chí Phong Hóa, Ngày Nay; các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xuất bản đến thời điểm viết luận án.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết của luận án và tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này làm rõ ba nhóm khái niệm công cụ (lý luận về tiểu thuyết, về mối quan hệ văn học – văn hóa, về sự canh tân văn học) và lập bản đồ nghiên cứu về Nhất Linh qua hơn 80 năm. Luận điểm then chốt: chọn tiểu thuyết làm thể loại chính của Tự lực văn đoàn là lựa chọn "thuận theo quy luật phát triển nội tại của văn học" trong cuộc giao lưu Đông – Tây giai đoạn 1932–1945; nghiên cứu liên ngành là hướng thích hợp nhất để định vị lại hiện tượng văn học này. Chương chỉ ra rằng trong số hơn 104 tư liệu tiếp nhận Tự lực văn đoàn ở miền Nam (1955–1975, theo thống kê của Phan Mạnh Hùng), số lượng công trình riêng về canh tân văn hóa thông qua tiểu thuyết vẫn rất hạn chế.
Chương 2: Khái quát về chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn
Chương phân tích bối cảnh ra đời của Tự lực văn đoàn: nhu cầu canh tân trong cuộc tiếp xúc Đông – Tây (sự sụp đổ của hệ tư tưởng Nho gia sau mốc 1919 bãi bỏ khoa cử Hán học; sự hình thành lớp trí thức Tây học với tư duy phân tích); vai trò tổ chức của Nhất Linh; tôn chỉ và chương trình hoạt động thực tế của văn đoàn. Chương làm rõ vị trí ưu thế của tiểu thuyết so với các thể loại khác trong việc thực hiện tôn chỉ: "sức mạnh chi phối người ta" của thể loại – theo cách diễn đạt của nhà duy tân Trung Hoa Lương Khải Siêu mà tác giả luận án dẫn lại. Chương cũng đặt Tự lực văn đoàn trong liên hệ với phong trào Duy Tân (tư tưởng "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" của Phan Chu Trinh) và nhà canh tân Nguyễn Trường Tộ.
Chương 3: Những vấn đề lớn của nhiệm vụ canh tân văn hóa, văn học được thể hiện trong tiểu thuyết Nhất Linh
Chương phân tích nội dung tư tưởng của sáu tiểu thuyết theo ba nhóm vấn đề chính: (1) Truyền bá những yếu tố tích cực của văn minh Thái Tây – khẳng định cái tôi cá nhân, đề cao tinh thần dân chủ, xây dựng ý thức cộng đồng; (2) Thực hiện tổng hợp văn hóa hướng tới tinh thần hiện đại – đả phá thiết chế hủ bại đồng thời trân trọng giá trị truyền thống tốt đẹp (thể hiện rõ trong Đoạn tuyệt, Lạnh lùng); cổ vũ con người cá nhân và cảnh báo hệ lụy của nổi loạn cực đoan; phác thảo mô hình tổ chức xã hội văn minh; (3) Xây dựng mô hình tiểu thuyết hiện đại và ngôn ngữ văn học chuẩn mực – định dạng các yêu cầu của tiểu thuyết hiện đại, xác lập tính khách quan của người trần thuật, xây dựng nguyên tắc vận dụng ngôn ngữ trong sáng tác. Từ phân tích quan niệm trong Viết và đọc tiểu thuyết, chương làm rõ bốn "công thức" Nhất Linh đúc kết: tránh viết tiểu thuyết để "làm luân lý"; chọn đề tài từ thực tế am hiểu; dựng nhân vật có đời sống riêng (không phải "nhân vật tượng gỗ"); hành văn giản dị, trong sáng thoát khỏi ảnh hưởng câu văn biền ngẫu Hán Việt và lối đặt câu "Tây hóa".
Chương 4: Hệ quả việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn trong nghệ thuật tiểu thuyết Nhất Linh
Chương khảo sát ba hệ quả nghệ thuật. (1) Khám phá những xung đột nghệ thuật mới: so với tiểu thuyết giai đoạn trước (xung đột tài tử – giai nhân), tiểu thuyết Nhất Linh đưa vào xung đột gia đình (đánh dấu bước chuyển thời đại, như trong Đoạn tuyệt, Lạnh lùng), xung đột cá nhân – xã hội và xung đột nội tâm của nhân vật "không trùng khít với chính mình" (đặc biệt trong Bướm trắng, Đôi bạn). (2) Xây dựng những hình tượng nhân vật mới: hình tượng nhân vật nổi loạn, hình tượng con người phụng sự lý tưởng, hình tượng "con người thất bại" (điển hình là nhân vật Trương trong Bướm trắng). (3) Hình thành ngôn ngữ tiểu thuyết mới: đa dạng hóa các "bè ngôn ngữ", phát triển ngôn ngữ tạo hình và ngôn ngữ thể hiện nội tâm.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định ba đóng góp chính:
-
Làm sáng tỏ những nhân tố thúc đẩy sự ra đời của Tự lực văn đoàn, chương trình hoạt động thực tế và những nội dung cốt lõi trong chủ trương canh tân văn hóa, văn học, dựa trên nhiều tài liệu nghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
-
Khẳng định đóng góp quan trọng của Tự lực văn đoàn và của Nhất Linh trong việc xây dựng mô hình tiểu thuyết hiện đại, "đặt nền móng cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam ở những thời kỳ văn học tiếp nối."
-
Từ phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nhất Linh, khẳng định một số vấn đề có ý nghĩa quy luật trong sự phát triển của lịch sử, văn hóa, văn học Việt Nam hiện đại: con đường đúng đắn hướng tới tự do và văn minh phải bắt đầu từ khai dân trí; văn hóa có sứ mệnh soi đường cho cộng đồng; tiểu thuyết là "vũ khí lợi hại" trong công cuộc giải phóng con người và giải phóng dân tộc.
Luận án không nêu các kiến nghị chính sách cụ thể.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Luận án không trình bày mục riêng về hạn chế. Căn cứ phạm vi đã xác định, có thể ghi nhận rằng nghiên cứu giới hạn ở sáu tiểu thuyết giai đoạn Tự lực văn đoàn và không phân tích đầy đủ hai bộ tiểu thuyết trường thiên sau (Dòng sông Thanh Thủy, Xóm Cầu Mới), chỉ xem chúng là tài liệu dẫn chiếu. Các hướng nghiên cứu có thể triển khai tiếp gồm: mở rộng đối chiếu với các thành viên khác của Tự lực văn đoàn (Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam) để đánh giá phần đóng góp riêng của Nhất Linh trong tổng thể; đặt mô hình tiểu thuyết Nhất Linh trong quan hệ so sánh cụ thể hơn với tiểu thuyết Đông Nam Á cùng thời kỳ hiện đại hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên ngành Văn học Việt Nam hiện đại: phần tổng thuật lịch sử nghiên cứu Nhất Linh và Tự lực văn đoàn trong Chương 1 cung cấp bản đồ tài liệu hữu ích, bao gồm cả nguồn trong nước lẫn hải ngoại và quốc tế.
- Người nghiên cứu lý luận và lịch sử văn học: phần Chương 1 về lý luận canh tân văn học (phân biệt canh tân – cách tân – phá cách; khái niệm thay đổi hệ hình văn học) và việc ứng dụng khung ba hệ chỉnh thể liên đới vào phân tích cụ thể có thể được khai thác như ví dụ phương pháp nghiên cứu liên ngành.
- Giảng viên và giáo viên phổ thông giảng dạy văn học giai đoạn 1930–1945: phân tích nội dung tư tưởng và nghệ thuật của các tiểu thuyết Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng trong Chương 3 và Chương 4 cung cấp diễn giải có hệ thống và dẫn nguồn cụ thể.
- Người nghiên cứu văn hóa học và lịch sử tư tưởng Việt Nam: Chương 2 về bối cảnh giao lưu Đông – Tây và sự hình thành Tự lực văn đoàn là phần đáng tham chiếu cho các nghiên cứu về quá trình hiện đại hóa văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát những tiểu thuyết nào của Nhất Linh và tại sao không bao gồm Dòng sông Thanh Thủy hay Xóm Cầu Mới?
Luận án tập trung vào sáu tiểu thuyết thuộc giai đoạn Tự lực văn đoàn: Nắng thu, Đoạn tuyệt, Đời mưa gió, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng. Hai bộ tiểu thuyết trường thiên (Dòng sông Thanh Thủy và Xóm Cầu Mới) bị loại khỏi đối tượng chính vì "đích hướng tới của chúng đã khác so với các sáng tác trước đây, một khi lịch sử đã lật qua trang mới và Tự lực văn đoàn với tư cách là một tổ chức văn học đã kết thúc vận mệnh của mình."
2. Luận án phân biệt khái niệm "canh tân", "cách tân" và "phá cách" như thế nào?
Luận án phân biệt ba cấp độ: "canh tân (更新)" chỉ sự chuyển động sang hình thức mới ở quy mô rộng, thay đổi căn bản so với hình thức cũ; "cách tân (革新)" là sự cải biến trong từng phương diện cụ thể; "phá cách (破格)" là thao tác diễn ra ở diện hẹp hơn, không theo lề lối có sẵn. Cuộc canh tân văn học Việt Nam những năm 30–40 thế kỷ XX được luận án xác định là "thay đổi hệ hình (paradigm)" theo nghĩa Trần Ngọc Vương.
3. Nhất Linh đề xuất những yêu cầu nào cho tiểu thuyết qua tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết?
Trong tiểu luận viết sau gần bốn mươi năm kinh nghiệm sáng tác (1952–1961), Nhất Linh đúc kết bốn yêu cầu cơ bản: (1) tránh viết tiểu thuyết để "làm luân lý" hay đặt nhiệm vụ ngoài nghệ thuật; (2) chọn đề tài từ những gì thực sự am hiểu và đam mê, tránh "theo thời"; (3) xây dựng nhân vật có đời sống riêng, không phải "nhân vật tượng gỗ"; (4) hành văn giản dị, trong sáng, tránh ảnh hưởng câu văn biền ngẫu Hán Việt và lối đặt câu "Tây hóa".
4. Luận án xác định "khoảng trống" nghiên cứu nào khiến hướng tiếp cận của mình khác với các công trình trước?
Các công trình trước về canh tân văn hóa của Tự lực văn đoàn thường "chỉ đưa ra cái nhìn khái quát, chưa phân tích, đối chiếu so sánh, và không đề cập đến vai trò của tiểu thuyết như một phương tiện hiện thực hóa cuộc canh tân tư tưởng." Luận án này triển khai nghiên cứu ở hai cấp độ song song: bao quát toàn nhóm Tự lực văn đoàn và đi sâu vào tiểu thuyết Nhất Linh, với tính quy mô và hệ thống hơn các công trình trước.
5. Luận án đánh giá vị trí của tiểu thuyết Bướm trắng như thế nào trong toàn bộ sự nghiệp Nhất Linh?
Luận án ghi nhận Bướm trắng là tác phẩm nhận được đánh giá cao nhất từ nhiều hướng tiếp cận: Phạm Thị Phương khẳng định đây là "đỉnh cao nghệ thuật của Nhất Linh"; Đặng Tiến và Thụy Khuê phát hiện "dáng dấp hiện sinh" trong tác phẩm; Nguyễn Hưng Quốc xác nhận đây là tác phẩm Nhất Linh "hài lòng nhất". Luận án đặt Bướm trắng vào nhóm tác phẩm thể hiện xung đột cá nhân nội tâm và hình tượng "con người thất bại" – hai phương diện phản ánh hệ quả nghệ thuật của chủ trương canh tân.
Kết luận
Luận án nghiên cứu tiểu thuyết Nhất Linh giai đoạn Tự lực văn đoàn từ góc nhìn liên ngành văn hóa – văn học, tập trung chứng minh sáu tiểu thuyết được chọn khảo sát không chỉ là tác phẩm nghệ thuật đơn thuần mà còn là phương tiện hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa có hệ thống của văn đoàn. Bằng cách đặt tiểu thuyết Nhất Linh trong ba hệ chỉnh thể liên đới (văn hóa thời đại 1932–1945, văn học Tự lực văn đoàn, tác phẩm cụ thể), luận án làm rõ mối quan hệ giữa tôn chỉ tổ chức và thực hành sáng tác ở cả hai phương diện nội dung tư tưởng và đổi mới nghệ thuật. Luận án ghi nhận Nhất Linh vừa là người đặt ra chương trình canh tân vừa là người thực thi nó bằng chính công cụ tiểu thuyết, trong đó việc xác lập mô hình tiểu thuyết hiện đại được xem là đóng góp có ý nghĩa nối tiếp cho các chặng đường phát triển sau của tiểu thuyết Việt Nam.