Chương 1: ĐÓNG GÓP CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM. Cơ sở lịch sử - văn hóa - xã hội cho sự ra đời của Tự lực văn đoàn 1. Những cơ sở lịch sử - văn hóa- xã hội của công cuộc hiện đại hóa nền văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX. Cùng với sự đổi thay có tính chất bước ngoặt của dân tộc, văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX cũng có một bước “chuyển mình” mang tầm vóc thế kỉ.
Từ một nền văn học trung đại mang đậm tính chất cổ điển kéo dài trong suốt hơn mười thế kỷ, đến nay văn học Việt Nam đã nhanh chóng gia nhập vào tiến trình văn học thế giới. Diện mạo nền văn học nước nhà giờ đây đang dần thay đổi và vận động theo hướng hiện đại hóa. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tuy là một nước thắng trận nhưng vẫn phải gánh chịu nhiều tổn thất kinh tế nặng nề. Để khôi phục lại nền kinh tế của mình, thực dân Pháp đã tăng cường khai thác thuộc địa.
Chúng ra sức vơ vét, bóc lột tài nguyên thiên nhiên của nước ta. Sau hai cuộc khai thác thuộc địa và thực hiện những chính sách kinh tế mới, xã hội Việt Nam đã biến đổi một cách sâu sắc và toàn diện. Từ một mô hình xã hội phong kiến phương Đông, Việt Nam đã căn bản chuyển sang xã hội thực dân nửa phong kiến. Giờ đây chính quyền bản xứ nằm trong tay thực dân Pháp, bộ máy cai trị được tổ chức lại theo hướng hiện đại hơn và chi phối toàn diện mọi mặt đời sống xã hội.
Kết quả của việc đưa ra một loạt các chính sách kinh tế mới là chế độ nửa phong kiến thuộc địa được hình thành. Xã hội lúc này xuất hiện nhiều đô thị với các nhà máy, đồn điền mọc lên nhanh chóng. Việc phát triển kinh tế hàng hóa đã tạo ra một thị trường sôi động chưa từng có ở Việt Nam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 từ trước tới nay. Cũng chính từ đây trong xã hội đã hình thành nhiều giai cấp, tầng lớp mới.
Nếu như trước đây xã hội Việt Nam chỉ có hai giai cấp chính là nông dân và địa chủ thì nay có thêm các giai cấp khác như: tư sản, tiểu tư sản, vô sản… Với những chính sách kinh tế của mình, thực dân Pháp đã phá vỡ chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn và đưa Việt Nam tiếp xúc với bên ngoài, với văn minh nhân loại và nhanh chóng hòa nhập vào “guồng quay” hiện đại của thế giới. Từ sự thay đổi về mô hình xã hội đã kéo theo sự biến động trong kết cấu xã hội Việt Nam. Để nắm vững thuộc địa, thực dân Pháp phải tìm mọi cách để nắm chắc chính quyền các cấp và kiểm soát được nhân dân. Vì vậy chúng phải xây dựng một bộ máy cai trị trung thành và một cơ sở xã hội thích hợp với chế độ của chúng.
Nhằm thay thế tầng lớp Nho sĩ, thân sĩ - tầng lớp có cội nguồn và được tín nhiệm lớn ở nông thôn Việt Nam, Pháp đã mở ra các trường hậu bổ, trường Pháp – Việt, trường Cao đẳng đào tạo những thế hệ Tây học để thay thế cho những văn thân xuất thân từ Nho học. Về cơ bản, những chính sách của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam “chuyển mình” bước sang xã hội tư sản, một hướng tư sản kém lành mạnh nhất. Nhưng công bằng mà nói thì chính điều đó lại tạo điều kiện cho các mặt khác phát triển. Đó là sự thay đổi bộ mặt thành thị, biến nó thành những trung tâm kinh tế mới; làm mất đi thế lực của nhiều lực lượng bảo thủ, trì trệ; tạo điều kiện cho cái mới du nhập vào đời sống của người nông dân ở thôn quê, giúp thay đổi nhận thức lạc hậu của họ.
Xã hội thực dân nửa phong kiến hình thành qua quá trình đấu tranh giữa ta và địch, giữa sự tranh chấp của cái cũ và cái mới. Tương ứng với các hiện tượng đó là cuộc cạnh tranh Đông - Tây trong văn học. Đội quân xâm lược đã tìm mọi cách để du nhập văn hóa Pháp vào Việt Nam nhằm đẩy lùi, chiếm chỗ, thay thế văn hóa cổ truyền của ta. Sự đổi thay về mặt chính trị - kinh tế - Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 xã hội đã tác động tới cuộc sống tinh thần, tâm lý và cách suy nghĩ của người dân Việt Nam.
Sự thâm nhập của cái mới đã làm thay đổi nhận thức của con người về xã hội, đồng thời tạo ra những con người mới với quan niệm sống và cách nhìn khác trước. Trong xã hội xuất hiện những vấn đề mới và đòi hỏi bổ sung những cách giải quyết mới đem lại những chuyển đổi căn bản trong đề tài, chủ đề, đó chính là điều kiện cho nhân vật văn học hiện đại xuất hiện thay thế cho những kiểu nhân vật đã quá quen thuộc trong văn học trung đại. Mỗi một giai cấp, tầng lớp lại có nhu cầu thưởng thức văn hóa khác nhau. Trong xã hội Việt Nam, có bao nhiêu giai cấp, tầng lớp thì đòi hỏi phải có bấy nhiêu “món ăn” tinh thần cần phải đáp ứng.
Đây chính là nguyên nhân khiến cho đời sống văn học của ta ngày càng phát triển phong phú và phức tạp, kéo theo sự xuất hiện của một lượng công chúng đa dạng. Cũng chính từ đây đã hình thành nên một đội ngũ những người sáng tác văn chương tương ứng với tính chất xã hội. Thời kỳ đầu, những nhà văn này là một lớp người có vốn kiến thức sâu rộng về văn hóa phương Đông nhưng cũng không còn hoàn toàn xa lạ với văn hóa phương Tây. Về sau, họ là một lớp sáng tác trẻ hơn, hiện đại hơn.
Đó là lớp trí thức trẻ được đào tạo ở các trường hậu bổ, trường Pháp – Việt, trường cao đẳng. Họ là lớp Tây học đầu tiên ít nhiều có vốn Nho học. Tư tưởng của họ được đổi mới và đi theo hướng hiện đại. Dần dần đội ngũ này hướng hẳn về phía Tây học, tìm đến với chủ nghĩa cá nhân và con đường giải phóng cá nhân trong chủ nghĩa lãng mạn Pháp thế kỉ XIX.
Các nhà văn này, với một phong cách chuyên nghiệp đã nhanh chóng vươn lên trở thành lực lượng sáng tác chính. Văn chương giờ đây đã trở thành một “nghề” kiếm sống chứ không đơn thuần viết ra chỉ để thưởng thức, để “tri âm”, để “tải đạo” giáo huấn như văn chương thời trung đại. Có thể nói văn chương đã thực sự trở thành một thứ “hàng hóa” trong xã hội. Người viết văn hiện đại do sự thúc bách của công việc mưu sinh nên sức sáng tạo của những cây bút trở nên dồi dào, phóng khoáng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Đó là điều kiện tạo nên một cuộc cách mạng trong văn chương. Những nhà văn chuyên nghiệp – họ là những trí thức hiện đại, được trưởng thành từ nhà trường Tây học. Vì vậy từ tư tưởng cho đến cách thức, phương pháp sáng tác, quan niệm của họ đều chịu ảnh hưởng của phương Tây và mang tính chất hiện đại. Với lượng công chúng độc giả ngày càng đông đảo và đa dạng thì nhu cầu đổi mới văn học càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Sự thâm nhập của văn hóa phương Tây đã nhanh chóng tác động mạnh mẽ vào quá trình hình thành và hiện đại hóa nền văn học nước nhà. Một nhân tố quan trọng tạo nên bước đột phá trong quá trình hiện đại hóa văn học thời kì này là sự xuất hiện và “lên ngôi” của chữ Quốc ngữ, nhằm thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm. Điều này tạo cơ hội để mở rộng lượng công chúng độc giả mới. Rõ ràng chữ Quốc ngữ, kể từ lúc mà cả dân tộc Việt Nam có ý thức sử dụng, đã đảm nhiệm được một khối lượng công việc rất lớn, nó vừa có ý nghĩa “phục hưng” các giá trị truyền thống, vừa là tiền đề để vươn tới các giá trị mới giúp văn học Việt Nam từng bước hội nhập với nhân loại, với thời đại.
Đặc biệt là báo chí thời kì này rất phát triển, chỉ trong khoảng một thời gian rất ngắn đã xuất hiện hàng trăm tờ báo lớn nhỏ khác nhau. Sự bùng nổ của báo chí là phương tiện hữu hiệu nhất đưa văn học đến với công chúng độc giả mọi tầng lớp một cách nhanh nhất. Có những tờ báo chuyên đăng tải những sáng tác văn học. Nếu không có sự “trợ giúp’ đắc lực của báo chí thì độc giả không thể tiếp cận nhanh chóng với các tác phẩm văn học.
Sẽ thật là thiếu sót nếu không kể đến công nghệ in ấn hiện đại đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam. Nếu như trước đây công việc xuất bản chỉ mang tính chất là một hoạt động mang tính tiểu thủ công, manh mún, lặt vặt thì nay xuất bản mang tính công nghệ hiện đại đã cho ra đời các tác phẩm văn học “tràn ngập” thị trường và đến với công chúng một cách dễ dàng nhất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 Khác với văn học trung đại, văn học hiện đại được hình thành và phát triển trên cơ sở xã hội thuộc địa. Sự xâm nhập của văn minh phương Tây đã kéo theo những nhu cầu văn hoá có tính thương mại.
Văn học giờ đây đã trở thành một nghề kiếm sống. Lúc này, công chúng văn học đã đông đảo hơn về mặt số lượng, đa dạng hơn về mặt thành phần. Người sáng tác văn học là tầng lớp trí thức Tây học đang dần thay thế cho nhà Nho làm chủ văn đàn. Cùng với sự bùng nổ của công nghệ in ấn và báo chí là những điều kiện để hình thành một nền văn học mới tuy ban đầu còn rất mỏng manh.
Sự chuyển đổi từ văn học trung đại sang văn học hiện đại ở nước ta diễn ra với nhịp độ nhanh chóng và gấp gáp. Điều đáng nói nhất là nền văn học của ta được hiện đại hoá ngay chính trong lòng xã hội thuộc địa. Những cơ sở lịch sử, văn hóa, xã hội trên đây chính là những tiền đề quan trọng quyết định quá trình hiện đại hóa của nền văn học Việt Nam. Sự ra đời của Tự lực văn đoàn Sự ra đời Nhắc đến Tự lực văn đoàn, người ta không thể không nhắc tới Nhất Linh, ông là người sáng lập đồng thời cũng là vị thủ lĩnh lãnh đạo văn đoàn.