Diễn Ngôn Tự Sự Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Minh Châu Sau 1975

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thạc sỹ diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết nguyễn minh châu sau 1975, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

112
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Diễn Ngôn Tự Sự Trong Văn Học

Trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu nổi lên như một tác giả có vị trí quan trọng. Ông không chỉ là một nhà văn lớn với nhiều tác phẩm xuất sắc mà còn được xem là người mở đường tinh anh và tài năng nhất, nhà văn tiên phong của văn học đổi mới. Sáng tác của ông thể hiện rõ thái độ thức nhận về thực tiễn theo nguyên tắc minh họa của một thời. Nhà văn phủ nhận nguyên tắc sáng tác ấy bằng cách nỗ lực đổi mới nhận thức về chính trị cũng như tư duy nghệ thuật, cách viết. Các tác phẩm ra đời sau 1975 của ông đã tạo ra bước ngoặt hết sức quan trọng cho sự đổi mới văn học dân tộc. Nghiên cứu Nguyễn Minh Châu để thấy được giá trị nghệ thuật phong phú cũng như những đóng góp to lớn của ông đối với văn học Việt Nam hiện đại, do đó, là công việc cần thiết, mang ý nghĩa lí luận và thực tiễn.

1.1. Lý Do Chọn Đề Tài Nghiên Cứu Nguyễn Minh Châu

Trong nhà trường, Nguyễn Minh Châu cũng là một tác giả lớn với nhiều tác phẩm ưu tú được lựa chọn đưa vào giảng dạy ở nhiều cấp bậc học. Trong chương trình Ngữ văn phổ thông hiện hành, hai truyện ngắn Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa được giảng dạy ở lớp 9 và lớp 12. Sắp tới đây, trong chương trình tổng thể Ngữ văn (ban hành năm 2018), truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của ông lại sẽ được đưa vào giảng dạy ở trung học phổ thông. Nghiên cứu Nguyễn Minh Châu, vì thế, còn có ý nghĩa nhất định đối với hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu Về Nguyễn Minh Châu Hiện Nay

Là một tác giả tài năng có nhiều đóng góp lớn, Nguyễn Minh Châu được chú ý ngay từ những tác phẩm đầu tiên. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, đã có hàng trăm công trình lớn nhỏ về Nguyễn Minh Châu được công bố. Tuy nhiên, lịch sử nghiên cứu Nguyễn Minh Châu vẫn chưa dừng lại. Những năm gần đây, nhiều lý thuyết nghiên cứu văn học mới cũng đã được áp dụng để khai thác, khám phá các tầng vỉa trong tác phẩm của ông. Bên cạnh nghiên cứu theo hướng thi pháp học, tự sự học, ký hiệu học…; sáng tác của Nguyễn Minh Châu cũng bắt đầu được nhìn nhận dưới lăng kính của phê bình sinh thái, lý thuyết diễn ngôn

II. Diễn Ngôn Tự Sự Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Minh Châu

Nghiên cứu sáng tác Nguyễn Minh Châu dưới góc độ lý thuyết diễn ngôn là một hướng đi tiềm năng, hứa hẹn mở ra con đường tiếp cận mới đầy triển vọng. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay, việc vận dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu Nguyễn Minh Châu mới dừng lại ở một số tác phẩm riêng biệt và ở thể loại truyện ngắn. Nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu nói chung, các tiểu thuyết sau 1975 nói riêng dưới góc độ lý thuyết diễn ngôn vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Xuất phát từ thực tiễn trên cùng mong muốn khám phá tiểu thuyết của ông bằng lý thuyết diễn ngôn, chúng tôi kế thừa các nhà nghiên cứu đi trước và phát triển luận văn Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975.

2.1. Tổng Quan Tình Hình Nghiên Cứu Diễn Ngôn

Trên thế giới, trào lưu vận dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu văn học diễn ra rầm rộ từ những năm 60 của thế kỷ XX. Ở nước ta, đây là một hướng nghiên cứu còn tương đối mới mẻ. Khởi đi từ các công trình ngôn ngữ học liên quan đến lý thuyết diễn ngôn và các công trình dịch thuật, giới thiệu về diễn ngôn văn học, những công trình nghiên cứu văn học Việt Nam dưới góc độ lý thuyết diễn ngôn bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ XX.

2.2. Các Nghiên Cứu Tiêu Biểu Về Diễn Ngôn Ở Việt Nam

Trong vòng hơn 10 năm trở lại đây, hướng nghiên cứu ngày càng quan tâm, với nhiều công trình quan trọng ra đời. Có thể kể ra những công trình tiêu biểu như Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 của Trần Văn Toàn (2009), Quy ước diễn ngôn giai đoạn 1986-1991 (2010) và Diễn ngôn về sự thật trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới (2015) của Trần Thiện Khanh, Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn của Nguyễn Thị Ngọc Minh (2012), Luận văn thạc sĩ Diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Hội thề của Nguyễn Quang Thân của Trương Thị Nhung (2014)...

III. Mục Tiêu Phương Pháp Nghiên Cứu Diễn Ngôn Tự Sự

Mục đích luận văn là tập trung làm sáng rõ những diễn ngôn tự sự tiêu biểu trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975 để thấy được những đổi mới trong tư duy nghệ thuật của nhà văn cũng như những cách tân trong tiểu thuyết của ông sau 1975. Qua đó, thấy được những bước đi tiên phong của Nguyễn Minh Châu và những đóng góp quan trọng của ông đối với sự đổi mới tiểu thuyết nói riêng, văn học Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất nói chung. Để thực hiện mục đích nghiên cứu này, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ khảo sát, mô tả, phân tích, biện giải về các diễn ngôn tiêu biểu cùng những chiến lược diễn giải nổi bật trong tiểu thuyết sáng tác sau 1975 của Nguyễn Minh Châu.

3.1. Đối Tượng Và Phạm Vi Nghiên Cứu Của Luận Văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề nổi bật, tiêu biểu trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu tham chiếu từ góc nhìn của lý thuyết diễn ngôn. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu ra đời sau 1975, cụ thể là 4 tác phẩm sau: Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người đi từ trong rừng ra (1982) và Mảnh đất tình yêu (1987).

3.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Được Sử Dụng Trong Luận Văn

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau: Phương pháp phân tích ngôn ngữ học, Phương pháp loại hình, Phương pháp liên văn bản, Phương pháp liên ngành. Ngoài ra, để thực hiện luận văn này, chúng tôi còn sử dụng những thao tác nghiên cứu như so sánh đối chiếu, phân tích khái quát, phân loại, đánh giá,… Đây là những thao tác được sử dụng xuyên suốt trong quá trình giải quyết những vấn đề nêu ra trong luận văn.

IV. Lý Thuyết Diễn Ngôn Khái Niệm Ứng Dụng Văn Học

Thuật ngữ diễn ngôn chỉ mới xuất hiện trong tiếng Việt trong vòng ba thập niên gần đây. Bằng chứng là các cuốn từ điển tiếng Việt xuất bản trước năm 2000, tiêu biểu là Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (Hoàng Phê chủ biên, 1997), không ghi nhận mục từ diễn ngôn. Thuật ngữ này chỉ được dùng trong một phạm vi khá hẹp, chủ yếu ở một số ngành khoa học xã hội và nhân văn như ngôn ngữ học, văn học, lịch sử. Diễn ngôn vốn có nguồn gốc phương Tây, được dịch từ thuật ngữ discourse. Theo Diệp Quang Ban trong công trình Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, “nhà ngôn ngữ học người Bỉ E.Buysen là người đầu tiên sử dụng discourse như một khái niệm chuyên môn trong tác phẩm Hoạt động nói năng và văn bản (1943)” [65].

4.1. Nguồn Gốc Và Sự Phát Triển Của Khái Niệm Diễn Ngôn

Ban đầu, diễn ngôn là một thuật ngữ của chuyên ngành ngôn ngữ học. Về sau, thuật ngữ này được mượn lại ở nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa văn học. Ở phương Tây, nghiên cứu diễn ngôn trở thành một trào lưu khoa học phát triển rất mạnh và “trở thành một khái niệm trung tâm, được lưu hành rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn” [65] từ những năm 60 của thế kỷ XX.

4.2. Các Cách Hiểu Về Khái Niệm Diễn Ngôn Hiện Nay

Ở nước ta, vấn đề diễn ngôn được giới thiệu, ứng dụng từ những năm cuối thế kỷ XX, khởi đầu từ những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học. Tuy nhiên, cho đến nay, thuật ngữ diễn ngôn vẫn chưa có sự thống nhất trong cách hiểu. Theo Trần Đình Sử, một trong những nhà lý luận văn học tiếp cận với lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học từ rất sớm, “trong thời gian gần đây trong nghiên cứu văn học, xã hội học, khái niệm diễn ngôn đã được sử dụng nhiều, song nhìn kĩ các tài liệu tiếng Việt khi sử dụng khái niệm này hiện còn có phần lúng túng” [80].

V. Tiểu Thuyết Nguyễn Minh Châu Sau 1975 Đổi Mới Tư Duy

Năm 1993, trong bài viết “Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn con người” [29], Nguyễn Văn Hạnh từ việc quan sát sự đổi mới tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong những năm 80 đã đi đến khẳng định nhà văn có sự dũng cảm phủ định chính mình để thay đổi cách nhìn về con người và cuộc sống, từ đó thay đổi cách viết. Đây là một trong những công trình sớm nhất nghiên cứu quá trình chuyển biến, đổi mới tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau 1975.

5.1. Các Nghiên Cứu Về Phong Cách Nghệ Thuật Nguyễn Minh Châu

Năm 1999, Lại Nguyên Ân, Tôn Phương Lan tập hợp, tuyển chọn từ các bài viết quan trọng về Nguyễn Minh Châu đã công bố trên các báo, tạp chí thành cuốn Nguyễn Minh Châu con người và tác phẩm [5]. Đây là một trong những công trình cập nhật kịp thời, thể hiện khá đầy đủ chân dung Nguyễn Minh Châu và sự nghiệp văn học của ông. Cũng trong năm này, Tôn Phương Lan công bố Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu [54]. Đây là một trong những chuyên luận quan trọng về Nguyễn Minh Châu.

5.2. Cảm Hứng Nhân Văn Trong Tác Phẩm Nguyễn Minh Châu

Năm 2006, Phạm Duy Nghĩa trong chuyên luận Nhà văn Nguyễn Minh Châu và cảm hứng nhân văn [67]. Từ việc nghiên cứu các cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã đi đến kết luận nhân văn là cảm hứng chủ đạo, làm nên giá trị của văn chương Nguyễn Minh Châu. Đây là một trong những công trình quan trọng về Nguyễn Minh Châu trên phương diện cảm hứng nghệ thuật.

VI. Phân Tích Diễn Ngôn Tự Sự Trong Các Tác Phẩm Tiêu Biểu

Năm 2011, trong luận văn Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975 [87], Trần Thị Thu tiếp cận tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu ở cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật đã chỉ ra những đặc điểm quan cơ bản của tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu thời kỳ sau 1975. Ngoài ra, hàng trăm công trình lớn nhỏ khác về Nguyễn Minh Châu như: Chất sử thi và chất trữ tình trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu (2001) của Lại Thị Hồng Vân [91], Nguyễn Minh Châu nhà văn chiến sĩ (2004) của Nguyễn Văn Kha [47], Chủ đề đạo đức trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 (2008) của Trần Danh Sơn [78]...

6.1. Nghiên Cứu Diễn Ngôn Trong Truyện Ngắn Nguyễn Minh Châu

Ở lĩnh vực lý thuyết diễn ngôn, đáng chú ý nhất là công trình Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu từ góc nhìn của lý thuyết diễn ngôn năm 2015 của Trần Văn Lực [59]. Trong luận văn này, tác giả đã tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Minh Châu bằng lý thuyết diễn ngôn ở hai chặng đường sáng tác: trước và sau 1975 với nhiều phát hiện mới mẻ, những kiến giải thuyết phục về nhiều vấn đề đặt ra trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Mới Về Tiểu Thuyết Nguyễn Minh Châu

Về nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu nói chung, tiểu thuyết của ông sau 1975 nói riêng dưới góc độ lý thuyết diễn ngôn, theo như sự quan sát, tìm hiểu của chúng tôi, cho đến nay hầu như chưa có những công trình tập trung, chuyên sâu, hệ thống. Luận văn Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975 có thể xem là một trong những công trình đầu tiên cho hướng nghiên cứu này.

06/06/2025
Luận văn thạc sỹ diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết nguyễn minh châu sau 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc của luận văn gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1. Về lý thuyết diễn ngôn và sự trăn trở đổi mới tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu Chƣơng 2. Diễn ngôn tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975 dƣới góc độ nội dung tƣ tƣởng Chƣơng 3. Đặc điểm chiến lƣợc diễn ngôn của tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975 qua ngôn ngữ và giọng điệu.

9 CHƢƠNG 1 VỀ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN VÀ SỰ TRĂN TRỞ ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN MINH CHÂU 1. Về lý thuyết diễn ngôn 1. Khái niệm diễn ngôn Thuật ngữ diễn ngôn chỉ mới xuất hiện trong tiếng Việt trong vòng ba thập niên gần đây. Bằng chứng là các cuốn từ điển tiếng Việt xuất bản trƣớc năm 2000, tiêu biểu là Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (Hoàng Phê chủ biên, 1997), không ghi nhận mục từ diễn ngôn.

Thuật ngữ này chỉ đƣợc dùng trong một phạm vi khá hẹp, chủ yếu ở một số ngành khoa học xã hội và nhân văn nhƣ ngôn ngữ học, văn học, lịch sử. Diễn ngôn vốn có nguồn gốc phƣơng Tây, đƣợc dịch từ thuật ngữ discourse. Theo Diệp Quang Ban trong công trình Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, “nhà ngôn ngữ học ngƣời Bỉ E.Buysen là ngƣời đầu tiên sử dụng discourse nhƣ một khái niệm chuyên môn trong tác phẩm Hoạt động nói năng và văn bản (1943)” [65]. Ban đầu, diễn ngôn là một thuật ngữ của chuyên ngành ngôn ngữ học.

Về sau, thuật ngữ này đƣợc mƣợn lại ở nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa văn học. Ở phƣơng Tây, nghiên cứu diễn ngôn trở thành một trào lƣu khoa học phát triển rất mạnh và “trở thành một khái niệm trung tâm, đƣợc lƣu hành rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn” [65] từ những năm 60 của thế kỷ XX. Ở nƣớc ta, vấn đề diễn ngôn đƣợc giới thiệu, ứng dụng từ những năm cuối thế kỷ XX, khởi đầu từ những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học. Tuy nhiên, cho đến nay, thuật ngữ diễn ngôn vẫn chƣa có sự thống nhất trong cách hiểu.

Theo Trần Đình Sử, một trong những nhà lý luận văn học tiếp cận với lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học từ rất sớm, “trong thời gian gần 10 đây trong nghiên cứu văn học, xã hội học, khái niệm diễn ngôn đã đƣợc sử dụng nhiều, song nhìn kĩ các tài liệu tiếng Việt khi sử dụng khái niệm này hiện còn có phần lúng túng” [80]. Trong bối cảnh ấy, ông đƣa ra 6 nội dung cơ bản của thuật ngữ diễn ngôn nhƣ sau: Thứ nhất, diễn ngôn là thực tiễn hoạt động giao tiếp của con ngƣời. Mọi hoạt động giao tiếp của con ngƣời đều đƣợc xem là những diễn ngôn. Thứ hai, diễn ngôn là phƣơng thức biểu đạt về mọi phƣơng diện đời sống bằng ngôn ngữ.

Cách biểu hiện về con ngƣời, thế giới, các sự việc… bằng ngôn ngữ đều là diễn ngôn. Thứ ba, diễn ngôn hƣớng tới nhiệm vụ tái hiện mọi phƣơng diện của đời sống thông qua ngôn ngữ. Chức năng của diễn ngôn chính là thông qua ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ tái hiện lại cuộc sống. Thứ tư, diễn ngôn hoạt động theo nguyên tắc, cơ chế của riêng nó.

Sự tái hiện bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ của diễn ngôn bao giờ cũng tuân theo những nguyên lý, nguyên tắc nhất định. Thứ năm, diễn ngôn là tiếng nói của một chủ thể quyền lực trong xã hội, là tiếng nói của kẻ chiếm địa vị thống trị về tƣ tƣởng ở một thời đại nào đó. Và cuối cùng, diễn ngôn không chỉ là một hiện tƣợng xã hội, nó còn là một hiện tƣợng siêu văn bản, liên văn bản. Diễn ngôn gắn liền với chủ thể diễn ngôn nhƣng không có tác giả cụ thể bởi nó là tiếng nói của một thời đại, của chủ thể quyền lực trong một thời đại nào đó.

Tóm lại, “diễn ngôn là hiện tƣợng xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ thống” [81; tr. Khái niệm diễn ngôn có nội hàm hết sức phong phú. Trên trang website của Khoa Ngữ văn (Trƣờng Đại học Khoa học Huế), Lã Nguyên, một nhà nghiên cứu lý thuyết văn học uy tín, cho công bố bài dịch “22 định nghĩa về diễn ngôn”. Trong bài viết này, dịch giả giới thiệu “22 đoạn trích” luận bàn về thuật ngữ diễn ngôn của các nhà phê bình văn học nổi tiếng thế giới, đƣợc rút ra từ tác phẩm Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Phân tích đa ngành [73].

Qua 22 định nghĩa này, có thể thấy, nội hàm của khái niệm diễn ngôn rất rộng, cho 11 phép ứng dụng trong nghiên cứu ở nhiều phạm vi khác nhau, nhƣ nhận định của Sara Mills trong Discourse: “Diễn ngôn là thuật ngữ có phạm vi nghĩa khả hữu rộng nhất so với bất cứ thuật ngữ nào khác thuộc lí luận văn học và văn hóa” [dẫn theo 59; tr. Trong luận văn này, chúng tôi dựa trên tinh thần 6 nội dung về thuật ngữ diễn ngôn trong cách hiểu của Trần Đình Sử làm cơ sở nghiên cứu vấn đề. Diễn ngôn văn học Khởi đi từ lĩnh vực ngôn ngữ học, diễn ngôn trở thành thuật ngữ của nhiều ngành khoa học xã hội. Nhiều loại hình diễn ngôn ra đời: diễn ngôn văn hóa, diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn xã hội học, diễn ngôn văn học… Vậy, diễn ngôn văn học là gì? Xét dƣới góc độ diễn ngôn, bản chất của văn học là diễn ngôn về đời sống.

Nói cách khác, mỗi tác phẩm văn học là một hay nhiều diễn ngôn về chính đời sống con ngƣời. Theo Trần Đình Sử, trong thực tiễn giao tiếp của đời sống, có nhiều loại diễn ngôn khác nhau. Nếu chính trị, pháp luật, chính sách, nghị quyết… đƣợc xem là những diễn ngôn trung tâm thì “văn học chủ yếu là diễn ngôn ngoại biên” [81; tr. Nhƣng cũng nhƣ các diễn ngôn ngoại biên khác, diễn ngôn văn học gắn bó mật thiết với đời sống con ngƣời, là tiếng nói của con ngƣời ở mỗi thời đại, luôn đồng hành với con ngƣời qua từng thời kỳ lịch sử.

Mỗi thời đại quy định nên những diễn ngôn văn học khác nhau và qua diễn ngôn văn học ấy, ta có thể hiểu hơn về nhiều phƣơng diện của đời sống con ngƣời ở từng thời đại. Trong bài viết “Bƣớc ngoặt diễn ngôn và sự thay đổi hệ hình nghiên cứu văn học”, Trần Đình Sử cho rằng văn học là một loại diễn ngôn, vừa mang tính chất chung của diễn ngôn vừa có những đặc thù của loại hình nghệ thuật ngôn từ [81; tr. Theo ông, cái chung đó là diễn ngôn văn học mang tính ý thức hệ; là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời, kiến tạo nên bản thân 12 hiện thực; có quy tắc, cơ chế, chức năng riêng. Do đó, nghiên cứu văn học nói riêng hay diễn ngôn nói chung là nghiên cứu về con ngƣời, xã hội, văn hóa.

Nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu dƣới góc độ diễn ngôn chính là nghiên cứu phát ngôn nghệ thuật về con ngƣời, xã hội, văn hóa Việt Nam trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu trƣớc và sau 1975. Văn học là một loại hình nghệ thuật phức tạp. Tính đặc thù của diễn ngôn văn học cũng là một vấn đề phức tạp. Đã có nhiều công trình lý luận văn học tập trung nghiên cứu, đi tìm những đặc thù của diễn ngôn văn học và chỉ ra những đặc thù ấy là “tính văn học”, “tính hƣ cấu”, “hình tƣợng”, “các biện pháp tu từ.

Tuy nhiên, theo các nhà lý luận văn học lớn nhƣ J. Campagnon tính đặc thù của diễn ngôn văn học là rất mong manh và gần nhƣ… không có gì là đặc thù cả. Bởi, những đặc thù ấy ngƣời ta cũng tìm thấy ở các văn bản phi văn học. Vì thế, xét đến cùng, đặc trƣng của diễn ngôn văn học chỉ mang tính chất tƣơng đối.

Vậy, tại sao có thể xem văn học nhƣ là một diễn ngôn? “Theo J. Culler, nên hiểu tác phẩm văn học nhƣ là một diễn ngôn, có đặc điểm là nếu thoát ly ngữ cảnh thì tự nó sẽ thành ngữ cảnh, và tuy không có đặc trƣng, nhƣng nó có các thuộc tính có giá trị phân biệt trên nét lớn” [81; tr. Culler, 5 thuộc tính của diễn ngôn văn học là: 1. “Ngôn ngữ nổi bật do sử dụng các thủ pháp lạ hóa, các phép tu từ”; 2.

“Ngôn ngữ sử dụng tổng hợp mọi thuộc tính, mọi quan hệ từ ngữ âm đến chữ viết để tạo nên hiệu quả”; 3. “Văn học là hƣ cấu”; 4. “Văn học là đối tƣợng thẩm mĩ” và 5. “Văn học là một kiến tạo văn bản tự nó khúc xạ, tự nó tạo nghĩa” [81; tr.

Các thuộc tính này có quan hệ mật thiết, giao thoa lẫn nhau. Nếu văn học là diễn ngôn về đời sống thì lí luận, phê bình văn học chính là diễn ngôn về văn học. Nhƣ vậy, từ góc độ lý thuyết diễn ngôn, có thể nói, nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu chính là một diễn ngôn về 13 tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu, bên cạnh những diễn ngôn khác. Bản thân nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học đã là một diễn ngôn.

Cho nên, vấn đề nghiên cứu văn học dƣới góc độ lý thuyết diễn ngôn chỉ là một diễn ngôn khác trong các diễn ngôn về văn học. Nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu từ góc độ diễn ngôn chính là một diễn ngôn khác về tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu, bên cạnh các diễn ngôn nhƣ nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu từ góc độ xã hội học, văn hóa học, tự sự học, phân tâm học, phê bình sinh thái,… Có thể nói, lý thuyết diễn ngôn mở ra một “bƣớc ngoặt” làm thay đổi hệ hình nghiên cứu văn học. Vận dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học là hƣớng đi khả thi, tiềm năng, có thể giúp giải mã nhiều vấn đề phức tạp của văn chƣơng. Đây cũng là hƣớng nghiên cứu đầy hứa hẹn trong việc khám phá các tầng vỉa ý nghĩa của tác phẩm văn học.

Tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Minh Châu dƣới góc độ diễn ngôn hiện nay vẫn còn là một hƣớng nghiên cứu khá mới mẻ và đầy triển vọng. Luận văn Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975 của chúng tôi là sự tiếp nối thành quả trƣớc đó, đồng thời cũng là sự trải nghiệm mới trong hành trình khám phá một phần trong sự nghiệp văn học đồ sộ của nhà văn đƣợc mệnh danh là “ngƣời mở đƣờng tinh anh và tài hoa” cho văn học Việt Nam sau 1975. Tình hình giới thiệu, vận dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam Ở nƣớc ta, vấn đề diễn ngôn đƣợc giới thiệu sớm nhất trong lĩnh vực ngôn ngữ học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Diễn Ngôn Tự Sự Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Minh Châu Sau 1975" mang đến cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật tự sự trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là sau năm 1975. Tác giả phân tích cách mà diễn ngôn tự sự không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật, từ đó tạo nên chiều sâu cho câu chuyện. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của Nguyễn Minh Châu mà còn mở ra những góc nhìn mới về văn học Việt Nam trong giai đoạn này.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết cuộc cờ của Phạm Quang Long, nơi khám phá nghệ thuật tự sự trong một tác phẩm khác, hay Khóa luận tốt nghiệp văn học đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1980, giúp bạn hiểu thêm về các tác phẩm ngắn của tác giả. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ văn học Việt Nam nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng là một tài liệu thú vị để so sánh và đối chiếu với phong cách của Nguyễn Minh Châu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về nghệ thuật tự sự trong văn học Việt Nam.