Tổng quan nghiên cứu
Hàng năm, hoạt động khai thác than của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam thải ra môi trường khoảng 182,6 triệu m3 đất đá và xấp xỉ 70 triệu m3 nước thải mỏ. Đặc biệt tại khu vực tỉnh Quảng Ninh, để sản xuất được 1 tấn than nguyên khai, các đơn vị phải bóc xúc từ 8 đến 10 m3 đất phủ và phát sinh từ 1 đến 3 m3 nước thải mỏ. Hoạt động khai thác lộ thiên ngày càng hạ xuống các moong sâu dưới mức thoát nước tự chảy, đạt độ sâu từ âm 100m tại mỏ Hà Tu đến âm 250m tại mỏ Cọc Sáu. Quá trình tháo khô moong khai thác làm phát sinh lượng nước thải khổng lồ chứa hàm lượng chất rắn lơ lửng cao, tính axit mạnh và nồng độ kim loại nặng hòa tan vượt chuẩn, đe dọa trực tiếp đến hệ thống sông suối tiếp nhận cũng như môi trường sinh thái vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường của tác giả Tạ Phương Ngọc hướng tới mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng chất lượng nước thải trước và sau xử lý tại 4 mỏ than lộ thiên lớn của tỉnh Quảng Ninh gồm: Hà Tu, Cao Sơn, Tây Nam Đá Mài và Cọc Sáu. Nghiên cứu thực hiện thu thập chuỗi dữ liệu quan trắc định kỳ trong 5 năm liên tục từ năm 2018 đến năm 2022, kết hợp đợt lấy mẫu chuyên sâu vào tháng 4 năm 2023 và mở rộng đối chứng với trạm xử lý nước thải mỏ than Núi Hồng tại tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện công nghệ xử lý, bảo đảm nước thải đạt chuẩn xả thải và tạo nền tảng tái sử dụng từ 30.000 đến 50.000 m3 nước mỗi ngày phục vụ sản xuất và sinh hoạt, giải quyết tình trạng khan hiếm nước ngọt tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết hình thành dòng thải axit mỏ kết hợp với lý thuyết keo tụ và lắng trọng lực trong xử lý nước thải công nghiệp khoáng sản. Hiện tượng axit hóa nước mỏ phát sinh do khoáng vật pyrit sắt trong các vỉa than và đất đá tiếp xúc với oxy không khí và nước, bị oxy hóa tạo thành axit sunfuric và giải phóng các ion sắt, mangan hòa tan vào nước.
Quá trình làm sạch dựa trên nguyên lý trung hòa hóa học bằng sữa vôi để nâng độ pH, chuyển hóa các ion kim loại nặng thành dạng kết tủa hydroxit khó tan. Tiếp đó, lý thuyết keo tụ và tạo bông được áp dụng thông qua việc châm hóa chất PAC và chất trợ keo tụ PAM nhằm liên kết các hạt cặn lơ lửng mang điện tích âm thành các bông bùn lớn. Cơ chế phân tách pha rắn lỏng được tối ưu hóa bằng động học lắng trong bể lắng tấm nghiêng lamen với các phiến lắng đặt nghiêng một góc 60 độ, giúp tăng diện tích lắng hiệu dụng lên gấp 3 đến 5 lần so với bể lắng ngang. Các khái niệm nền tảng được vận hành xuyên suốt đề tài gồm: chỉ số pH, tổng chất rắn lơ lửng TSS, dung lượng hấp phụ kim loại và vận tốc lắng bề mặt.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ báo cáo quan trắc môi trường định kỳ 4 quý mỗi năm trong suốt giai đoạn 5 năm từ năm 2018 đến năm 2022 tại 4 trạm xử lý nước thải mỏ than Hà Tu giai đoạn 2, Cao Sơn, Tây Nam Đá Mài và Cọc Sáu. Bộ dữ liệu gồm hơn 80 mẫu quan trắc đầu vào và đầu ra. Tác giả bổ sung 8 mẫu nước phân tích chi tiết tại các bể phản ứng trung hòa và bể lắng lamen vào tháng 4 năm 2023, cùng 8 bộ mẫu quan trắc giai đoạn 2021-2022 tại trạm xử lý mỏ Núi Hồng để đối chứng.
Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật lấy mẫu tổ hợp và đo đạc hiện trường theo các tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6663-1:2011, TCVN 5999-1995 và TCVN 8880:2011. Các mẫu nước được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 2 đến 5 độ C bằng axit nitric và axit sunfuric chuyên dụng.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Toàn bộ chỉ tiêu được phân tích tại Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, đơn vị được chứng nhận chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2017 với mã số phòng thí nghiệm VILAS 396 và chứng chỉ VIMCERTS 023. Tác giả sử dụng hệ thống thiết bị phát xạ nguyên tử ICP-MS 7700x của Agilent để đo đạc các kim loại nặng và máy quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS DR 6000 của Hach nhằm bảo đảm ngưỡng phát hiện siêu vi lượng ở mức dưới 0,01 mg/l, đáp ứng hoàn toàn tính chuẩn xác theo quy chuẩn xả thải quốc gia.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, đặc tính nước thải thô đầu vào có độ pH giảm mạnh và biến thiên theo chiều sâu khai thác. Trong giai đoạn 2018-2020, độ pH tại các trạm cơ bản đạt ngưỡng 5,5 đến 7,0. Tuy nhiên, từ năm 2021 đến năm 2022, độ pH tại trạm Hà Tu giai đoạn 2 và mỏ Cọc Sáu đã tụt xuống mức từ 3,8 đến 4,8, vượt ra ngoài giới hạn cho phép từ 5,5 đến 9,0 của quy chuẩn quốc gia về nước thải công nghiệp.
Thứ hai, hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng TSS đầu vào vượt ngưỡng quy chuẩn từ 2 đến hơn 30 lần. Trong khi quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT cột B quy định giới hạn TSS là 81 mg/l, giá trị TSS thô tại mỏ Cọc Sáu và Tây Nam Đá Mài vào các đợt mưa lớn của năm 2021-2022 thường xuyên vượt trên 1.200 mg/l, có thời điểm ghi nhận mức tăng đột biến gấp 17 đến 30 lần, đạt xấp xỉ 2.400 mg/l.
Thứ ba, nồng độ sắt tổng và mangan hòa tan trong nước thải đầu vào vượt ngưỡng cho phép ở mức báo động. Tại trạm Hà Tu, nồng độ sắt tăng nhanh từ quý 2 năm 2020 và vượt gấp 5 lần giới hạn 4,05 mg/l. Đối với chỉ tiêu mangan, nồng độ tại cả 4 trạm đều vượt ngưỡng giới hạn 0,81 mg/l từ 5 đến 10 lần; đỉnh điểm tại trạm Tây Nam Đá Mài vào quý 3 và quý 4 năm 2022, hàm lượng mangan đầu vào vượt trên 30 lần ngưỡng quy định.
Thứ tư, về hiệu quả xử lý, dây chuyền trung hòa kết hợp lắng tấm nghiêng lamen và lọc mangan tại 4 trạm đã loại bỏ được từ 92% đến 98% lượng cặn TSS và trên 95% hàm lượng sắt, giúp nước sau xử lý đạt cột B quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT. Dù vậy, chỉ số mangan sau lọc tại một số thời điểm mưa lớn vẫn dao động tiệm cận ngưỡng cho phép, kém ổn định hơn so với trạm xử lý mỏ Núi Hồng vốn đạt chất lượng nước đầu ra cột A nhờ dây chuyền lắng hai bậc kết hợp hạ pH sau lọc.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản dẫn tới nồng độ chất ô nhiễm tăng cao bắt nguồn từ khối lượng đất đá bóc xúc quá lớn tại các mỏ than lộ thiên, điển hình như mỏ Cao Sơn bốc xúc hơn 58 triệu m3 và mỏ Hà Tu bốc xúc trên 44 triệu m3 trong năm 2022. Khai thác xuống moong sâu làm tăng diện tích tiếp xúc của các tầng chứa pyrit sắt với nước mặt và không khí, đẩy nhanh phản ứng oxy hóa sinh ra axit sunfuric và rửa lũa kim loại nặng. Bên cạnh đó, các hồ điều hòa có dung tích chưa tương xứng với lưu lượng mưa lũ khiến thời gian lưu nước bị rút ngắn, gây sốc tải cục bộ cho cụm hóa lý.
Về phương thức biểu diễn số liệu, các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa rất rõ nét thông qua biểu đồ đường đa trục tọa độ thể hiện tương quan biến thiên nghịch đảo giữa pH và hàm lượng sắt, mangan hòa tan qua các quý trong năm. Đi kèm với đó, một bảng ma trận so sánh chi tiết giữa công nghệ lắng ngang truyền thống và công nghệ lắng tấm nghiêng lamen sẽ phản ánh sinh động hiệu quả phân tách cặn cơ học.
Ý nghĩa thực tiễn của các phát hiện cho thấy việc duy trì chất lượng nước đạt cột B mới chỉ đáp ứng yêu cầu xả thải tối thiểu ra môi trường tự nhiên. Để hướng tới nền kinh tế tuần hoàn và giải quyết triệt để sự thiếu hụt nguồn nước sạch tại Cẩm Phả và Hạ Long, các trạm xử lý mỏ lộ thiên cần được nâng cấp công nghệ để tiệm cận tiêu chuẩn cột A.
Đề xuất và khuyến nghị
Một là, nâng cấp công nghệ oxy hóa cưỡng bức và vật liệu lọc mangan tự động. Doanh nghiệp cần lắp đặt tháp làm thoáng sục khí đa tầng trước cụm phản ứng và thay thế cát lọc thông thường bằng quặng mangan hoạt tính nhằm nâng hiệu suất khử mangan lên trên 98%, kiểm soát nồng độ mangan sau lọc đạt dưới 0,5 mg/l theo chuẩn cột A. Lộ trình triển khai từ năm 2024 đến năm 2026, do Công ty TNHH Một thành viên Môi trường thuộc TKV chủ trì thực hiện.
Hai là, mở rộng và nạo vét dung tích hồ lắng điều hòa đầu nguồn. Các mỏ cần xây dựng bổ sung các ngăn lắng sơ bộ tại trạm Tây Nam Đá Mài và Cọc Sáu để bảo đảm thời gian lưu thủy lực tối thiểu từ 12 đến 16 giờ. Giải pháp này giúp cắt giảm từ 50% đến 60% tải lượng cặn lơ lửng TSS thô trước khi đi vào bể lắng lamen, giảm thiểu nguy cơ quá tải trong mùa mưa bão. Thời gian hoàn thành trong giai đoạn 2024-2025, do các công ty than Cao Sơn và Cọc Sáu thực hiện.
Ba là, tự động hóa quy trình châm hóa chất bằng cảm biến đo trực tuyến. Đơn vị cần trang bị cảm biến đo liên tục độ pH và độ đục kết nối hệ thống điều khiển PLC để định lượng chính xác liều lượng sữa vôi, PAC và PAM theo lưu lượng dòng chảy. Giải pháp giúp loại bỏ sai số do con người, giảm từ 15% đến 20% chi phí hóa chất vận hành hàng năm và ngăn ngừa sốc tải hóa lý, triển khai từ năm 2024 đến năm 2025 do phòng cơ điện các đơn vị mỏ phụ trách.
Bốn là, xây dựng modul lọc màng phục vụ tái sử dụng 100% nguồn nước mỏ. Tập đoàn cần đầu tư hệ thống lọc màng siêu lọc UF và màng thẩm thấu ngược RO phía sau bể lọc cát để tinh chế từ 30.000 đến 50.000 m3 nước thải mỏ mỗi ngày thành nước sạch cấp cho xưởng sàng tuyển, rửa xe vận tải và bổ sung cho sinh hoạt đô thị. Lộ trình thực hiện từ năm 2025 đến năm 2030 dưới sự phối hợp giữa TKV và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm kỹ sư vận hành và cán bộ quản lý môi trường tại các đơn vị khai thác mỏ: Luận văn cung cấp trực tiếp các thông số kỹ thuật thực nghiệm về định mức pha chế hóa chất vôi, PAC, PAM và quy trình vận hành bể lắng lamen, giúp xử lý triệt để hiện tượng bùn nổi và tắc nghẽn đường ống khi lưu lượng nước thải tăng cao.
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh và Cục Khoáng sản có thể khai thác bộ dữ liệu quan trắc 5 năm để xây dựng hạn ngạch xả thải, hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật địa phương và ban hành quy định về tỷ lệ tái tuần hoàn nước thải công nghiệp ngành than.
Nhóm chuyên gia tư vấn và các công ty thiết kế công trình xử lý nước thải: Các kỹ sư môi trường có thể ứng dụng số liệu tải lượng ô nhiễm thực tế để tính toán thiết kế modul lắng lọc chịu tải cao cho các loại nước thải công nghiệp có dải pH biến thiên rộng từ 3,5 đến 8,5 và nồng độ TSS lên đến hàng nghìn mg/l.
Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý Môi trường: Công trình là tài liệu tham khảo giàu giá trị thực tiễn về mô hình xử lý dòng thải axit mỏ tại Việt Nam, phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình và phát triển các đề tài chuyên sâu về kinh tế tuần hoàn tài nguyên nước.
Câu hỏi thường gặp
Nước thải mỏ than lộ thiên tại Quảng Ninh mang những đặc tính ô nhiễm nào nổi bật nhất?
Nước thải mỏ than lộ thiên có độ đục và hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS rất cao, dao động từ vài trăm đến hơn 2.400 mg/l. Nước có tính axit mạnh với giá trị pH thường xuyên hạ xuống dưới 4,5, đồng thời chứa nồng độ ion sắt và mangan hòa tan vượt quy chuẩn môi trường từ 5 đến hơn 30 lần do hiện tượng oxy hóa quặng pyrit tự nhiên khi moong mỏ hạ sâu.
Vì sao ion mangan trong nước thải mỏ than lại khó xử lý đạt chuẩn hơn ion sắt?
Mangan có thế oxy hóa khử cao hơn sắt nên chỉ kết tủa hoàn toàn thành hydroxit khi môi trường đạt độ pH kiềm mạnh từ 9,5 trở lên, trong khi sắt đã kết tủa hoàn toàn ở mức pH từ 6,5 đến 7,5. Nếu trạm chỉ nâng pH đến ngưỡng trung hòa để khử sắt thì mangan vẫn tồn tại ở dạng hòa tan, bắt buộc phải sử dụng tháp oxy hóa cưỡng bức hoặc bể lọc cát mangan chuyên dụng.
Dây chuyền công nghệ xử lý nước thải mỏ than lộ thiên hiện nay đang vận hành theo nguyên lý nào?
Quy trình công nghệ gồm 5 công đoạn liên hoàn: nước thải từ moong được bơm về hồ điều hòa để lắng cặn sơ bộ; kế tiếp đưa qua bể trung hòa bằng sữa vôi để nâng pH; tiếp tục bổ sung PAC và PAM tại bể keo tụ tạo bông; dẫn qua bể lắng tấm nghiêng lamen để tách bùn; cuối cùng đi qua bình lọc áp lực hoặc bể lọc trọng lực khử mangan trước khi xả ra môi trường.
Điểm khác biệt mấu chốt giúp trạm xử lý mỏ Núi Hồng đạt tiêu chuẩn xả thải cột A là gì?
Trạm xử lý mỏ than Núi Hồng đạt QCVN 40:2011/BTNMT cột A nhờ vận hành hệ thống lắng hai bậc kết hợp làm thoáng oxy hóa cưỡng bức đa cấp và hạ pH sau xử lý bằng axit sunfuric loãng. Thiết kế công nghệ tối ưu này giúp loại bỏ triệt để ion mangan xuống dưới mức 0,5 mg/l và kiểm soát độ đục ổn định hơn so với quy trình lắng một bậc phổ biến tại các mỏ than Quảng Ninh.
Việc tái sử dụng nước thải mỏ sau xử lý mang lại những lợi ích kinh tế và môi trường cụ thể nào?
Tái sử dụng nước thải mỏ giúp ngành than tiết kiệm hàng chục tỷ đồng chi phí khai thác nước ngầm và mua nước sạch thương phẩm mỗi năm. Hoạt động này cung cấp từ 30.000 đến 50.000 m3 nước sạch mỗi ngày cho các xưởng tuyển than, rửa xe mỏ, tưới đường dập bụi và bổ sung nguồn nước tưới tiêu nông nghiệp, giảm thiểu nguy cơ cạn kiệt tài nguyên nước ngọt tại Cẩm Phả và Hạ Long.
Kết luận
- Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước thải tại 4 mỏ than lộ thiên trọng điểm tỉnh Quảng Ninh với 4 chỉ tiêu cốt lõi gồm pH, TSS, Fe và Mn trong chuỗi quan trắc 5 năm từ năm 2018 đến năm 2022.
- Nghiên cứu xác nhận các trạm xử lý nước thải mỏ than Hà Tu giai đoạn 2, Cao Sơn, Tây Nam Đá Mài và Cọc Sáu đều vận hành đạt quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT cột B với hiệu suất khử cặn lơ lửng và sắt đạt từ 92% đến 98%.
- Đề tài chỉ ra điểm nghẽn kỹ thuật trong khâu khử mangan vào mùa mưa bão và đối chiếu hiệu quả vượt trội của quy trình xử lý đạt cột A tại trạm mỏ Núi Hồng để làm cơ sở cải tiến công nghệ.
- Tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản trị khả thi gồm oxy hóa cưỡng bức, mở rộng hồ điều hòa, tự động hóa định lượng hóa chất và đầu tư hệ thống màng lọc tuần hoàn.
- Công trình xác lập lộ trình chuyển giao công nghệ làm sạch nước mỏ theo hai giai đoạn chiến lược 2024-2025 và 2025-2030 gắn liền với định hướng kinh tế xanh của tỉnh Quảng Ninh.
Đóng góp chính của luận văn là cung cấp hệ thống số liệu quan trắc thực nghiệm đáng tin cậy và cơ sở khoa học vững chắc giúp ngành than chuyển dịch mô hình từ xả thải thụ động sang quản trị tuần hoàn tài nguyên nước. Trong lộ trình tiếp theo, các mỏ than lộ thiên cần khẩn trương hoàn thành việc lắp đặt hệ thống châm hóa chất tự động trong giai đoạn 2024-2025 và triển khai module màng lọc tinh giai đoạn 2025-2030. Các doanh nghiệp ngành than, nhà khoa học và cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hợp tác đầu tư công nghệ làm sạch nước nhằm bảo vệ môi trường sinh thái vịnh Hạ Long và xây dựng một nền công nghiệp khai khoáng phát triển bền vững.