MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Ngày nay nhân loài đã bước sang thế kỉ 21 và đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế nhưng vẫn phải đối mặt với một thực trạng nhức nhối đó là đói nghèo. Đói nghèo xuất hiện và tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia nếu không giải quyết được nạn nghèo đói đất nước sẽ rơi vào cảnh lạc hậu, tụt dần so với các nước trên thế giới. Do đó công cuộc xoá đói giảm nghèo là vấn đề cấp thiết cần được giải quyết hàng đầu của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên những năm qua, nghèo đói tại Việt Nam được đo lường thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền. Người nghèo hay hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo.Với cách xác định hộ nghèo dựa trên thu nhập như hiện nay thì các hộ cận nghèo được xem như thoát nghèo, tuy nhiên, trên thực tế thì các hộ này vẫn còn rất nhiều khó khăn như việc làm không ổn định, thu nhập bấp bênh, rủi ro về bệnh tật, tai nạn, thiên tai, mất mùa. đa phần họ mới thoát nghèo vẫn chưa thực sự bền vững nên khả năng tái nghèo cao.
Thậm chí còn có những người tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại không tiếp cận được một số nhu cầu cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin.Một phần vì khoảng cách giữa nghèo và cận nghèo khá mong manh nên thoát nghèo và tái nghèo như một vòng luẩn quẩn. Bên cạnh đó, thì vẫn còn tồn tại một bộ phận người dân có tư tưởng không muốn thoát nghèo trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước, sự giúp đỡ của cộng đồng, chưa thực sự phấn đấu nỗ lực vươn lên đó là một nghịch lý giảm nghèo. Càng nhiều chính sách hỗ trợ thì n 2 tỉ lệ giảm nghèo càng thấp do nhiều chính sách khiến nguồn lực bị phân tán, hiệu quả tác động đến đối tượng thụ hưởng chưa cao. Vì vậy, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa vào thu nhập sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu.
Đồng thời các chương trình và chính sách hỗ trợ giảm nghèo bị chồng chéo về đối tượng và nội dung hỗ trợ, phân tán và manh mún, gây kém hiệu quả. Để khắc phục những nhược điểm đó Việt Nam đã nghiên cứu và áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều và chuẩn nghèo mới dự kiến sẽ xem xét dựa trên 5 chiều gồm: Y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin và nhà ở. Kết quả đo lường nghèo đa chiều này sẽ cho thấy sự thiếu hụt các chiều của từng cộng đồng, khu vực để các nhà hoạch định chính sách có thể thiết lập thứ tự ưu tiên trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người. Các nhu cầu cơ bản này được coi là quan trọng ngang bằng nhau và con người có quyền được đáp ứng tất cả các nhu cầu này để có thể đảm bảo một cuộc sống bình thường và các chính sách đưa ra hỗ trợ nghèo sẽ chính xác hơn đối với từng đối tượng.
Hiện nay Yên Đổ là một xã của huyện Phú Lương với tỉ lệ hộ nghèo còn cao, các điều kiện cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí cò thấp, tài chính thiếu thốn… Qua đó việc nghiên cứu, chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đa chiều để đáp ứng các nhu cầu cơ bản tối thiểu của người dân là một đòi hỏi mang tính khách quan để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tới. Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại xã Yên Đổ – Phú Lương – Thái Nguyên”. Mục tiêu đề tài nghiên cứu * Mục tiêu chung: Trên cơ sở đánh giá thực trạng nghèo đa chiều tại địa bàn xã Yên Đổ. Từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại xã Yên Đổ - huyện Phú Lương- tỉnh Thái Nguyên * Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá thực trạng nghèo đa chiều tại xã Yên Đổ - huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới nghèo trong địa bàn xã Yên Đổ và nguyên nhân ảnh hưởng đến giảm nghèo đa chiều. - Đề xuất được các giải pháp nhằm thoát nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại xã Yên Đổ. Ý nghĩa của đề tài *Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế. - Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên.
Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế. - Có được cái nhìn tổng thể về tình trạng nghèo đói của cả nước nói chung và riêng xã Yên Đổ trên cơ sở đánh giá các chỉ số nghèo đa chiều. - Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này. n 4 * Ý nghĩa thực tế - Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo đánh giá thực trạng nghèo của địa phương thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững của xã Yên Đổ.
Ngoài ra, từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu có thể cho địa phương có một cái nhìn tổng thể cũng như chi tiết hơn về thực trạng nghèo của xã. Qua đó, phần nào giúp định hướng những kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm giúp địa phương giảm nghèo bền vững. - Xác định được các yếu tố gây ảnh hưởng đến nghèo của các hộ trong xã. Từ đó, nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của các hộ và đề ra các giải pháp giải quyết các nhu cầu trước mắt của người dân.
Góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa, giáo dục, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân trên địa bàn xã. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm nghèo Có nhiều khái niệm về nghèo đói của các tổ chức và quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như theo thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác nhau của nghèo đói. Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và các nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối hiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định”.
Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 các quốc gia trong hku vực đã thống nhất cho rằng “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội Tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hang đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO) n 6 ông Abaplaen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1997 cho rằng: “Nghèo đói là sự tiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng sự khác nhau để phân biệt giữa họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống và thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn người nghèo.
Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể và được nghiên cứu ở mức độ cá nhân và cộng đồng. Nghèo, đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ thiếu ăn từ 1 đến 2 tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng. Đói là thang thấp nhất của nghèo, đói thuần túy là đói ăn, đói nằm trọn trong phạm trù kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hóa, thuộc phạm trù văn hóa tinh thần.
Đói cũng có hai dạng là đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt) : - Đói kinh niên là một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro tại thời điểm đang xét. - Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.