Chương 1: Những vấn đề cơ bản về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng và thi hành pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam. Chương 2: Thi hành pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Những đóng góp của đề tài Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ thực tiễn thi hành các qui định pháp luật hiện hành về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam nói chung, đặc biệt là ở Chi cục Thuế quận Hải Châu, TP Đà Nẵng; đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về khấu LUAN VAN CHAT LUONG download4 : add luanvanchat@agmail.com trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam cũng như khắc phục những tồn tại trong qui định và thực tiễn khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT THI HÀNH KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM 1.Những vấn đề cơ bản về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng 1.Khái niệm, đặc điểm của khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng Thứ nhất, về khấu trừ thuế giá trị gia tăng: Thuật ngữ thuế giá trị gia tăng tiếng Pháp là Tax sur la value ajourtée (TVA), tiếng Anh là Value Added Tax (VAT), thường được dùng để chỉ một loại thuế gián thu, đánh vào việc sử dụng thu nhập, tức đánh vào việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ mà cụ thể là đánh vào hành vi chuyển giao tài sản và cung cấp dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ.[23; 9] Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Định nghĩa này rất khác so với định nghĩa về thuế doanh thu, theo đó thuế giá trị gia tăng không tính trên phần doanh thu thu được từ việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ mà là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. Giá trị tăng thêm có thể được xác định theo nhiều phương thức tính khác nhau nhưng nguyên lí chung là bằng giá trị sản phẩm đầu ra (giá bán/doanh thu) trừ giá trị sản phẩm đầu vào (giá mua/chi phí). Điều cần lưu ý là trong khi thuế doanh thu thường được thiết kế theo hướng tiếp cận theo ngành thì thuế giá trị gia tăng lại được tiếp cận theo quá trình.
Nghĩa là, đối với thuế doanh thu, việc tính thuế không phụ thuộc vào quy trình sản xuất và tiêu thụ của sản phẩm. Bất kỳ hoạt động SXKD nào phát sinh doanh thu chịu thuế theo qui định đều phải nộp thuế doanh thu. Nói cách khác, do không được khấu trừ thuế doanh thu đầu vào nên các hoạt động mua hàng và bán hàng hay quá trình từ sản xuất, lưu thông, phân phối đến tiêu dùng có tính độc lập tương đối với nhau. Trong khi đó, do bản chất của thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nên yếu tố đầu vào cũng giữ một vai trò quan trọng như yếu tố đầu ra.
Nói cách khác, thuế giá trị gia tăng đưa ra những khái niệm mới so với thuế doanh thu là khấu trừ và hoàn thuế. Các quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng là những mắt xích gắn kết với nhau rất chặt chẽ. Nhà phân phối mua sản phẩm của nhà sản xuất rồi bán lại cho người tiêu dùng sẽ được khấu trừ thuế đầu vào nhưng phải nộp thuế đầu ra. Điều này có nghĩa là nhà phân phối chỉ phải chịu khoản thuế giá trị gia tăng tính trên phần giá trị tăng thêm ở khâu phân phối.
Trước đó, nhà sản xuất chắc chắn đã phải nộp khoản thuế giá trị gia tăng cho sản phẩm đầu ra bán cho nhà phân phối. Thuế giá trị gia tăng là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com phận thu nhập cũng chính là khoản thuế mà nhà phân phối được chính phủ hoàn lại. Người tiêu dùng mua hàng để sử dụng cuối cùng sẽ không được hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào. Khoản thuế giá trị gia tăng đầu vào của người tiêu dùng cũng chính là khoản thuế giá trị gia tăng mà nhà phân phối phải nộp cho chính phủ.
Theo cách tư duy mắt xích như vậy thì người tiêu dùng cuối cùng mới chính là người phải gánh chịu khoản thuế giá trị gia tăng, trong khi đó nhà phân phối và nhà sản xuất chỉ là người “nộp thay” khoản thuế này cho người tiêu dùng và sau đó được chính phủ hoàn lại. Cũng theo cách suy luận như vậy thì thuế giá trị gia tăng cũng tương tự như thuế doanh thu đánh vào khâu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ xét ở phương diện giá trị. [22;7] Với đặc tính ưu việt hơn thuế doanh thu, việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đã giải quyết tình trạng thuế trùng thuế qua các khâu của quá trình lưu thông hàng hóa, góp phần tạo ra sự công bằng giữa các chủ thể trong hoạt động SXKD, kích thích lưu thông hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng. Cơ chế khấu trừ thuế giá trị gia tăng được thực hiện trên cơ sở thuế giá trị gia tăng đã nộp ở khâu trước sẽ được khấu trừ ở khâu sau thông qua cơ chế giá cả khi thực hiện hành vi mua bán hàng hóa, dịch vụ, do đó chỉ có người bán hàng (hoặc dịch vụ) lần đầu phải nộp thuế giá trị gia tăng trên toàn bộ doanh thu bán hàng (hoặc cung ứng dịch vụ).
Còn người bán hàng (hoặc dịch vụ) ở các khâu tiếp theo đối với hàng hoá (hoặc dịch vụ) đó, chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm. Nói cách khác, thuế giá trị gia tăng là loại thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ, trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá (hoặc dịch vụ) từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng, khép kín một chu kỳ kinh tế. Ðến cuối chu kỳ SXKD hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đã nộp ở khâu trước được gọi là khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Tại Điều 10 Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 qui định "Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hóa nhập khẩu và đáp ứng điều kiện qui định" Như vậy, có thể hiểu khấu trừ thuế giá trị gia tăng là việc xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp trong kỳ tính thuế trên cơ sở thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ. Nếu kết quả là số dương thì đó chính là số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho Ngân sách nhà nước trong tháng hoặc quý. Nếu kết quả là một số âm thì được chuyển bù trừ vào số thuế giá trị gia tăng phải nộp của tháng hoặc quý tiếp theo hay đề nghị cơ quan thuế hoàn lại LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com theo qui định của pháp luật. Xác định nghĩa vụ thuế theo phương pháp khấu trừ hoàn toàn loại trừ khả năng tính thuế chồng lên thuế.
Bởi lẽ, cách tính thuế dựa vào hóa đơn đảm bảo xác định thuế có cơ sở và căn cứ để kiểm tra thuế do giá tính thuế, thuế suất cũng như số thuế phải nộp được thể hiện rõ ràng trên hóa đơn. Khấu trừ thuế giá trị gia tăng được xem là nội dung cơ bản và quan trọng của pháp luật về thuế giá trị gia tăng. Đặc điểm khấu trừ thuế giá trị gia tăng được thể hiện: Thứ nhất, phần thuế giá trị gia tăng được khấu trừ là số thuế được xác định một cách trực tiếp, là hiệu số thuế của các khâu trong quá trình sản xuất lưu thông mà không phải phần giá trị gia tăng được xác định trực tiếp qua các khâu. Trên nguyên tắc, không phải bất cứ thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào nào cũng được khấu trừ mà chỉ có thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho hoạt động SXKD hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng mới được khấu trừ.
Thứ hai, căn cứ để xác định số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ là số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng khi mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào không có hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn giá trị gia tăng không đúng theo quy định của pháp luật thì CSKD không được khấu trừ thuế. Như vậy, khấu trừ thuế giá trị gia tăng chỉ áp dụng đối với CSKD nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và có hóa đơn giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. CSKD nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng hoặc CSKD nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ nhưng mua hàng hóa, dịch vụ của CSKD nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng (hóa đơn bán hàng thông thường) thì không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.