Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO LÃNH THANH TOÁN VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO LÃNH 1. Khái niệm bảo lãnh Trong giao dịch dân sự, để đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận và để tránh các thiệt hại do sự vi phạm nghĩa vụ gây ra, các bên tham gia giao dịch thường đặt ra các yêu cầu với bên có nghĩa vụ để đảm bảo họ thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 bao gồm: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh.
Các biện pháp bảo đảm này có nội dung và yêu cầu khác nhau, tùy từng giao dịch cụ thể mà các bên lựa chọn sử dụng các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ sao cho phù hợp và hợp lý. Bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm truyền thống, sớm được sử dụng rộng rãi. Trong mỗi quốc gia, khái niệm bảo lãnh được quy định cũng có những nét riêng biệt. Trong luật La Mã: bảo lãnh được hiểu là hợp đồng, theo đó bên thứ ba với mục đích bảo đảm quyền lợi của bên có quyền đã cam kết thực hiện thay nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình.
Trách nhiệm của bên thứ ba là trách nhiệm bổ sung với trách nhiệm của bên có nghĩa vụ và nó chỉ tồn tại khi nghĩa vụ nó đảm bảo tồn tại trên thực tế [36]. Trong Bộ luật Dân sự Pháp, bảo lãnh thanh toán được quy định tại điều 2288 đến 2320 của luật này. Về nguyên tắc, bảo lãnh thanh toán là một biện pháp bảo đảm đối nhân theo đó, người bảo lãnh cam kết với bên thứ ba 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là người thụ hưởng sẽ trả nợ cho con nợ gốc (người được bảo lãnh) nếu người này vi phạm nghĩa vụ đó cam kết. Điều 2011 Bộ luật Dân sự Pháp qui định: "Người nhận bảo lãnh một nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó với người có quyền nếu chính người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ" [24].
Tại Việt Nam, theo Bộ luật Dân sự Sài Gòn: Khế ước bảo chứng là những khế ước có mục đích bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ trong trường hợp trái hộ lâm vào tình trạng vô tư lực không trả được nợ.; Người nào nhận bảo lãnh một nghĩa vụ tức là cam kết với trái chủ sẽ thi hành nghĩa vụ ấy, nếu chính trái hộ không thi hành [34]. Trong lĩnh vực pháp lý Việt Nam hiện đại, bảo lãnh được quan niệm là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Khái niệm về bảo lãnh cũng được quy định rõ trong Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước ta: Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây được gọi là bên được bảo lãnh) khi đến thời hạn mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc không thực đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình [27, Điều 361].
Cũng như theo Bộ luật Dân sự này thì: "Người bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho người được bảo lãnh" [27]. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của bảo lãnh Hầu hết các định nghĩa về bảo lãnh đều có những điểm chung cơ bản là: (i) cam kết của bên thứ ba (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ (nghĩa vụ được bảo lãnh) của bên có nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh); (ii) có sự thực hiện thay nghĩa vụ của bên được bảo lãnh; (iii) sự vi phạm nghĩa vụ (nghĩa vụ được bảo lãnh) của bên được bảo lãnh là điều kiện cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên trên thực tế có không ít trường hợp có sự tham dự của bên thứ ba vào việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền song không phải là bảo lãnh.
Ví dụ như: - Trong việc thực hiện nghĩa vụ liên đới, khi bên thứ khác không phải bên được bảo lãnh có nghĩa vụ đối với bên có quyền - bên nhận bảo lãnh nhưng liên đới chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ cùng với bên có nghĩa vụ thì bên thứ ba sẽ phải cùng với bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền. Trong trường hợp này, khi đến hạn, bên có quyền có thể yêu cầu bên liên đới chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với mình mà không nhất thiết phải yêu cầu từng bên thực hiện phần nghĩa vụ của họ. Đây là điểm khác biệt với hình thức bảo lãnh. - Trong việc thực hiện nghĩa vụ thông qua bên thứ ba: khi bên có nghĩa vụ ủy quyền cho bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền và được bên có quyền chấp nhận thì bên có quyền có quyền trực tiếp yêu cầu bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền khi nghĩa vụ đến hạn mà không cần đợi có sự vi phạm của bên có nghĩa vụ.
Điều này cũng có khác biệt với hình thức bảo lãnh, trong hình thức bảo lãnh, bên có quyền có thể yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nhưng vẫn có quyền đồng thời yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ. Rõ ràng, sự cam kết của bên thứ ba vào việc thực hiện nghĩa vụ của người khác là một trong những yếu tố cơ bản để xác định bản chất đích thực 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của bảo lãnh. Tuy nhiên yếu tố đó phải kết hợp với việc điều kiện bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ là căn cứ để bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mới là căn cứ đầy đủ để xác định một cam kết có phải là cam kết bảo lãnh hay không. Từ đó có thể rút ra một số đặc điểm của bảo lãnh, cụ thể như sau: - Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm mang tính chất đối nhân: Để nhận định biện pháp bảo đảm mang tính đối vật (vật quyền) hay đối nhân (trái quyền) phải dựa trên tiêu chí có hay không có tài sản được đưa ra để đảm bảo và bên có quyền có quyền nào đối với tài sản dùng để đảm bảo hay không.
Bảo đảm đối nhân là bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) được quyền yêu cầu đối với chính bên cam kết thực hiện nghĩa vụ thực hiện thay nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ (bên bảo lãnh) chứ không được quyền ưu tiên thu nợ từ một tài sản cụ thể nào của bên có nghĩa vụ. Khác với các biện pháp bảo đảm đối vật là bên bảo đảm trao cho bên có quyền (bên nhận bảo đảm) quyền đối với tài sản bảo đảm và quyền ưu tiên thu nợ từ tài sản bảo đảm, cho dù tài sản đó đang nằm trong tay ai và tình trạng thực tế như thế nào. Các biện pháp bảo đảm của Bộ luật Dân sự Pháp cũng được thiết kế theo triết lý trái quyền và vật quyền và được chia thành hai loại là vật quyền bảo đảm và trái quyền bảo đảm. Trong đó biện pháp bảo lãnh tiêu biểu cho loại trái quyền bảo đảm - bảo đảm theo đó một trái quyền được tăng cường bởi một trái quyền khác.
Tuy nhiên Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 hiện nay không có sự phân định rõ ràng về biện pháp bảo đảm đối vật và đối nhân. Đối với hình thức cầm cố, thế chấp tài sản, một số quyền đối với tài sản của bên có nghĩa vụ (bên cầm cố, thế chấp) được tạm thời chuyển giao cho bên có quyền (bên nhận cầm cố, thế chấp, ví dụ như: bên có quyền tạm thời nắm giữ nguyền chiếm hữu, quyền sử lý tài sản bảo đảm của bên có nghĩa vụ để thu hồi nợ. Do đó, về bản chất hình thức cầm cố, thế chấp là một biện pháp bảo đảm đối vật. Ngược lại, trong hình thức bảo lãnh, bên có quyền (bên nhận bảo 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lãnh) không được trao bất cứ quyền nào đối với bất kỳ tài sản nào của bên bảo lãnh nhưng bên nhận bảo lãnh chỉ có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Xét dưới góc độ này, hình thức bảo lãnh theo quy định của Pháp luật Việt Nam là biện pháp bảo đảm đối nhân. - Nghĩa vụ theo bảo lãnh là nghĩa vụ thứ cấp theo nghĩa vụ của bên được bảo lãnh Trong lĩnh vực luật học trên thế giới, nghĩa vụ nói chung và nghĩa vụ theo hợp đồng nói riêng được phân làm nhiều loại và theo các tiêu chí khác nhau. Trong đó có sự phân loại nghĩa vụ thành nghĩa vụ chính (primary obligation) và nghĩa vụ thứ cấp (secondary obligation). Nghĩa vụ chính là nghĩa vụ phải được thực hiện vì đó chính là mục đích chính của hợp đồng, có nghĩa là hợp đồng được các bên tạo ra để thực hiện nghĩa vụ đó và nghĩa vụ chính phải được thực hiện trước nhất [5].
Trong khi đó nghĩa vụ thứ cấp là nghĩa vụ phái sinh từ nghĩa vụ chính, xuất hiện khi nghĩa vụ chính không được thực hiện. Theo thực tiễn và quy định của rất nhiều quốc gia trên thế giới, đặc điểm cơ bản của hình thức bảo lãnh đó là bảo lãnh là nghĩa vụ thứ cấp, lệ thuộc theo nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, theo đó bên bảo lãnh không có nghĩa vụ gì trừ khi nghĩa vụ chính của bên được bảo lãnh không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Theo quy định của hệ thống luật Anh Mỹ (common law) khi bên có nghĩa vụ vi phạm trong việc thực thi nghĩa vụ thì bên có quyền được quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện thay nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ [35].