CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT 1. Những vấn đề lý luận về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt 1. Khái niệm rác thải sinh hoạt Theo các quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm về rác thải được quy định rải rác và chưa thống nhất. Bởi vậy, để làm rõ khái niệm này chúng ta tìm hiểu thông qua việc phân tích ngữ nghĩa của cụm từ “rác thải”.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Từ điển học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa năm 2006 thì “rác thải” được hiểu với nghĩa như khái niệm “chất thải”, tức là “rác và các vật bỏ đi sau một quá trình sử dụng nói chung”, ví dụ: Chất thải công nghiệp, chất thải hạt nhân, xử lý chất thải”. Như vậy, thực tế không có sự phân biệt rạch ròi giữa khái niệm chất thải và khái niệm rác thải theo cách giải thích trong Từ điển Tiếng Việt. Bởi vậy, trong phạm vi luận văn, tác giả đi sâu phân tích khái niệm rác thải trên cơ sở nội hàm của khái niệm chất thải như cách hiểu đã nêu tại Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đó là “chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Dưới góc độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những “chất” không còn sử dụng được nữa, bị con người “thải” ra trong các hoạt động khác nhau.
Chất thải được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì được gọi với những thuật ngữ khác nhau như: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt và sản xuất được gọi là rác thải; chất thải phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu trong quá trình sản xuất được gọi là phế liệu; chất thải phát sinh sau quá trình 8 luan an sử dụng nước được gọi là nước thải… Từ đó, chúng ta có thể thấy khái niệm “chất thải” bao trùm lên khái niệm “rác thải”. Chất thải có thể là rác thải, nước thải, khí thải… nhưng rác thải chỉ bao gồm chất thải rắn sinh hoạt, ví dụ như những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ, y tế… mà mọi người không dùng nữa và thải bỏ đi. Theo quan điểm của GS. Lê Văn Khoa, có thể chia rác thải thành ba nhóm: - Rác khô hay còn gọi là rác vô cơ: Gồm các loại phế thải thủy tinh; sành sứ, kim loại, giấy cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi, vật liệu xây dựng… - Rác ướt hay thường gọi là rác hữu cơ: Gồm cây cỏ loại bỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, xác súc vật, phân động vật.
- Chất thải nguy hại: Là những thứ phế thải rất độc hại cho môi trường và con người như pin, bình ắc quy, hóa chất, thuốc trừ sâu, bom đạn, rác thải y tế, rác thải điện tử… Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về rác thải như sau: “Rác thải là tổng hợp tất cả các loại chất thải rắn được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác của con người”. Với sự tương đồng về mặt ngữ nghĩa và bản chất của hai khái niệm “rác thải” và “chất thải”, trong phạm vi luận văn tác giả sẽ tập trung phân tích việc thi hành pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải dưới góc độ nghiên cứu các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Ngoài ra, rác thải sinh hoạt được phát sinh từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách: 9 luan an - Theo vị trí hình thành: Tùy theo vị trí hình thành mà người ta phân ra rác thải đường phố, rác thải vườn, rác thải các khu công nghiệp tập trung, rác thải hộ gia đình. - Theo thành phần hóa học và vật lý: Theo tính chất hóa học có thể phân ra rác thải hữu cơ, rác thải vô cơ, kim loại, phi kim, - Theo mức độ nguy hại, rác thải được phân thành: + Rác thải nguy hại: Bao gồm các hoá chất dễ phản ứng, các chất độc hại, rác thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, rác thải phóng xạ,.
+ Rác thải không nguy hại: Là những rác thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp. + Rác thải y tế nguy hại: Là những rác thải có nguồn gốc từ các hoạt động y tế, mà nó có đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường và sức khỏe của cộng đồng bao gồm bông băng, gạt, kim tiêm, các bệnh phẩm và các mô bị cắt bỏ, … Nghị định số 38/2015/NĐ – CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Nghị định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường) quy định: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [Khoản 1 Điều 3]. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người [Khoản 3 Điều 3]. Các chất nảy sinh xung quanh, gần gũi với người dân chính là chất 10 luan an thải rắn sinh hoạt.
Có thể thấy, rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn. Như vậy, rác thải sinh hoạt là toàn bộ các loại vật chất ở thể rắn được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng,. Trong đó quan trọng nhất là các loại rác thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và các hoạt động sống. Khái niệm thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt Theo Từ điển Tiếng Việt, xử lý được hiểu là việc “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn các nguyên liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sản xuất để tồn tại và phát triển đồng thời cũng vứt, thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải. Nền kinh tế - xã hội càng phát triển, dân số tại các vùng đô thị, trung tâm công nghiệp càng tăng nhanh thì phế thải và rác thải càng nhiều và ảnh hưởng trực tiếp trở lại đời sống của con người, làm cho môi trường bị ô nhiễm, con người mắc bệnh tật, giảm sức khoẻ cộng đồng, đất đai bị biến thành bãi rác, làm mất cảnh quan tại các khu đô thị. Trong lĩnh vực xử lý rác thải, những hoạt động tổ chức và điều khiển của các cơ quan nhà nước cũng như việc tổ chức xử lý rác thải của các tổ chức, cá nhân có liên quan, nhằm giảm bớt những tác động xấu của rác thải đối với môi trường và sức khỏe con người được hiểu là hoạt động xử lý rác thải. Đây là tổng hợp các biện pháp, cách thức nhằm kiểm soát quá trình phát sinh, vận chuyển, xử lý rác thải và những ảnh hưởng, tác động của rác thải đến môi trường.
11 luan an Đã từ lâu, ở các nước phát triển, nhà nước và cộng đồng đã đưa ra các biện pháp xử lý rác thải, đưa vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; xây dựng hệ thống cống ngầm thoát nước, quy định những nơi chôn rác sinh hoạt, những quy chế, phương pháp thu gom, phân loại, tái chế và xử lý rác. Chính vì vậy, những khu dân cư tập trung và cả đến tận thôn xóm vùng nông thôn của các nước này đều có một cảnh quan đô thị, làng xóm sạch đẹp, văn minh, con người khoẻ mạnh có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, đặc biệt là vấn đề vứt rác và thu gom rác. Từ những kết quả thu gom phế liệu, rác thải, con người nhận thấy họ có thể tái chế các nguyên liệu phế thải thành các sản phẩm tiêu dùng mới vừa tiết kiệm bãi rác vừa tăng sản phẩm xã hội. Từ cách thức thu gom, phân loại rác thải đã đem lại nhiều kết quả cho cuộc sống của con người như: Môi trường sống không bị ô nhiễm, giảm diện tích chôn rác, đem lại nguồn lợi kinh tế, thu nhập cho lao động xử lý rác.
Trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ trước, công tác xử lý rác thải sinh hoạt được các nhà xử lý quan tâm tập trung chủ yếu vào công tác thu gom và xử lý các loại rác thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của con người. Chính vì vậy, mô hình thu gom, vận chuyển xử lý khi đó cũng mới chỉ hình thành ở mức độ đơn giản. Đơn vị chịu trách nhiệm xử lý, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt được giao cho Phòng Xử lý đô thị trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, với đơn vị chịu trách nhiệm vệ sinh đường phố là các công nhân quét dọn và thu gom rác thải từ các hoạt động sinh hoạt của người dân khu vực đô thị. Rác thải sau đó được tập kết và đổ thải tại nơi quy định.
Trong giai đoạn tiếp theo, cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, các ngành kinh tế bắt đầu được Nhà nước ưu tiên phát triển. Các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi và các ngành du lịch, dịch vụ theo đó cũng phát triển mạnh là nguyên nhân phát sinh lượng rác thải 12 luan an ngày càng nhiều. Đi kèm với quá trình phát sinh về khối lượng là tính phức tạp, sự nguy hại về tính chất. Công tác xử lý rác thải sinh hoạt không còn đơn thuần là xử lý rác thải sinh hoạt mà còn bao gồm vấn đề xử lý rác thải công nghiệp, xây dựng, y tế, nông nghiệp.
Quá trình phát triển đòi hỏi công tác xử lý rác thải sinh hoạt phát triển tương ứng về cơ chế, chính sách, pháp luật và các nguồn lực. Nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tế đặt ra, công tác xử lý rác thải sinh hoạt được điều chỉnh bằng một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật quy định khá chi tiết.