CHƯƠNG I: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THONG TIN KINH TE NONG NGHIEP TREN TRUYEN HINH 1. Các khái niệm có liên quan đến dé tai 1. Thông tin và thông tin báo chí Trong Đại tir điển Tiếng Việt, “thông tin” được hiểu như sau: ở dạng động từ, thông tin là truyền tin, đưa tin, báo cho nhau biết. Ở dạng danh từ, thông tin có hai cách hiểu, một là tin tức được truyền đi cho biết; hai là tin tức về các sự kiện được diễn ra trong thế giới xung quanh.1526] Trong sách Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, các tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang cho rằng: khái niệm “thông tin” được bắt nguồn từ chữ Latinh là informetio, géc của từ tiếng Anh là information.52-53] Khái niệm “thông tin” trong lý luận báo chí cũng đang tồn tại hai cách hiểu.
Một là, tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống. Hai là, sự loan báo cho mọi người biết. Như vậy, thông tin cũng chính là chức năng của báo chí (theo nghĩa sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện có để truyền đạt kết quả sáng tạo cua nhà báo).55] Trong các chức năng của báo chí thì chức năng thông tin là chức năng cơ bản mang tính tiên quyết của báo chí. Báo chi tồn tại và phát triển là dé đáp ứng nhu cau thông tin ngày càng cao của con người và xã hội.
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thông tin của quần chúng càng đòi hỏi cao, đa dạng và phong phú hơn. Ngoài ra, thông tin báo chí cũng đồng thời là chất liệu và động lực thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yéu dé nhà báo thực hiện mục đích của mình. Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng.
Báo chí bao gồm tất cả các phương tiện thông tin thuộc những loại hình khác nhau như bdo in (thông tin bang chữ viết), phát thanh (thông tin 16 băng tiếng nói), uyên hình (thông tin bằng hình anh và âm thanh); báo điện tw (thông tin đa phương tiện trên mạng internet). Các loại hình thông tin này ở những cấp độ khác nhau (từ Trung ương đến địa phương), với ý nghĩa là “các phương tiện thông tin đại chúng”. Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều cách sử dụng khác nhau. Có khi chỉ là cái tin van, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng van, một chương trình phát thanh, truyền hình, các tiêu dé, vị trí của tác phẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo.chúng đều có chứa đựng thông tin.
Tóm lại, “thông tin” là cách gọi truyền thống trong nghề báo, theo nghĩa chính xác nhất của từ này là “thông tin sự kiện”. Ngoài ra, trên báo, trong chương trình phát thanh hay trên vô tuyến truyền hình còn có “thông tin lí luận”, “thông tin giải thích”, “thông tin nghệ thuật”.55-56] Trong một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cách riêng của mình dé phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tang lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau. Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được. Như vậy, khái quát lại thong tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa: - Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống.
Tat cả những van dé, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu câu tim hiểu, khám phá của con nguoi. - Thứ hai, đó là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới công chúng. Kinh tế nông nghiệp Trong cuốn Ti điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, định nghĩa: + Kinh tế là: “Tông thé nói chung những quan hệ sản xuất của một hình thái xã hội — kinh tế nhất định. Tổng thể những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất.545] + Nong nghiệp là: “Ngành sản xuất vật chất cơ ban của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi.740] Trong bài viết Xây dựng văn hóa trong kinh tế vì sự phát triển bên vững của đất nước Việt Nam (đăng trên Tạp chí Cộng sản ngày 08/9/2019), GS.
Chu Văn Cáp đưa ra quan niệm về “kinh tế” như sau: “Kinh tế là hoạt động sản xuất của cải vật chất, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội; là tổng hòa các mối quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quan lý và quan hệ phân phối, lưu thông sản phẩm xã hội), dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cau kinh tế của chế độ xã hội hay cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội. Nói đến kinh tế là nói đến lợi ích kinh tế, hiệu quả kinh tẾ và sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với mỗi thành viên tham gia quá trình sản xuất và tái sản xuất, cũng như lợi ich của mỗi tập đoàn, giai cấp, nhóm xã hội. I] Công ước về an toàn vệ sinh lao động trong nông nghiệp (Việt Nam thông qua ngày 21/6/2001) đưa ra khái niệm “nông nghiệp” gồm: “Những hoạt động nông, lâm nghiệp tiến hành tại các cơ sở nông nghiệp, bao gồm trồng hoa màu, trồng rừng, chăn nuôi động vật và côn trùng, sơ chế nông sản do cơ sở hoặc nhân danh cơ sở thực hiện; Việc sử dụng và bảo dưỡng máy, thiết bị, công cụ, dụng cụ và các nhà xưởng nông nghiệp, kế cả quy trình, kho tàng, phương tiện điều hành hoặc vận chuyền trong cơ sở nông nghiệp nào có liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp.1] 18 Còn theo cuốn Giáo trình Hệ thống nông nghiệp thì đưa ra khái niệm: “Nông nghiệp là một hoạt động của con người được tiến hành chủ yếu dé san xuất ra lương thực, sợi, chat đốt, cũng như nhiều loại nguyên liệu khác bằng sự cân nhắc kĩ lưỡng và sử dụng có điều khiển cây trồng và vật nuôi. Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cô nhất có lịch sử các đây ít nhất 10.000 năm, khi mà các bộ lạc nguyên thủy ở thời kỳ đồ đá mới.39] Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi (trong đó bao gồm cả trồng và khai thác rừng, nuôi trồng và khai thác thủy sản.), khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu dé tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp chế biến dé tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Sản xuất nông nghiệp trước đây mang tính tự cấp, tự túc, dựa trên sức người, ngày nay đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, và được công nghiệp hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ. Ngành nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng, thiết yếu, bảo đảm sự phát triển 6n định, bền vững của mọi nền kinh tế. Như vậy, Kinh tế nông nghiệp là những quan hệ sản xuất thuộc phạm vi nông nghiệp, những nét đặc thù của hoạt động sản xuất nông nghiệp do sự tác động của những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội mang lại,. Kinh té nông nghiệp còn được hiểu là các quan hệ kinh té, quan hé san xuat trong su tac động qua lại của lực lượng san xuất và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp.
Thông tin về kinh tế nông nghiệp Báo chí là công cụ tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá X đã thé hiện rõ nét quan điểm của Đảng đối với các nhiệm vụ của báo chí trong giai đoạn hiện nay. Đó là, Báo chí phải năm vững và tuyên truyên sâu rộng, 19 kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cô vũ thành tựu của công cuộc đôi mới. Coi trọng đúng mức việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh, góp phần ngăn chặn và từng bước đây lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội.
Đôi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đôi với hoạt động báo chí. Đối với thông tin báo chí về kinh tế nông nghiệp bao gồm những nội dung, như: Chủ truong, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế nông nghiệp, Thông tin về kết quả phát triển kinh tế nông nghiệp, Tấm gương, điển hình về phát triển sản xuất nông nghiệp; Những van dé đặt ra trong hoạt động sản xuất nông nghiệp;. Chủ trương về phát triển kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là van đề được Đảng và Nhà nước rất quan tâm và coi trọng, có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tô quốc; gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Bởi, điểm xuất phát của Việt Nam đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo, chiếm đa số trong xã hội.
Bước vào thời ky đôi mới, sự đột phá về chính sách của Đảng cũng được khởi đầu thực hiện ở lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006), Dang ta nhân mạnh: “Hiện nay và trong nhiễu năm tới, van dé nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tâm chiến lược đặc biệt quan trọng ”. Hội nghị lần thứ Bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa X (tháng 8/2008), Đảng đã ra Nghị quyết chuyên về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định: “Nóng nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự 20 nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và luc lượng quan trọng dé phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, dam bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước ”.