Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ WTO VÀ CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ NÔNG NGHIỆP TẠI WTO 1.1 Tổng quan về WTO và các hiệp định của WTO liên quan đến nông nghiệp 1.1 Sự ra đời của WTO và ảnh hưởng của nó đối với các quốc gia thành viên 1.1 Sự ra đời của WTO Tổ chức Thương mại thế giới, gọi tắt là WTO (World Trade Organization) được thành lập ngày 01 tháng 01 năm 1995. Đến nay, WTO đã có 153 thành viên, chiếm khoảng 98% giao dịch thương mại toàn thế giới… Tiền thân của tổ chức này là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). Từ vòng đàm phán Urugoay (1986 -1994) với sự phát triển không ngừng của thương mại quốc tế, GATT đã mở rộng phạm vi hoạt động, không chỉ tiến hành những đàm phán về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các Hiệp định trở thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề hàng rào phi thuế quan, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại, về thương mại nông sản, hàng dệt may và cơ chế giải quyết tranh chấp. Vì vậy GATT - với tư cách là một sự thoả thuận có nhiều nội dung kí kết mang tính chất tuỳ ý không còn phù hợp, các thành viên đã cùng nhau kí kết hiệp định thành lập tổ chức Thương mại thế giới.
Là một tổ chức độc lập với hệ thống Liên hợp quốc, WTO có chức năng hoạt động riêng, với nguyên tắc riêng để đạt được mục tiêu của mình. Ngay khi tổ chức Thương mại thế giới được thành lập, Việt Nam đã đệ đơn xin gia nhập WTO. Hơn 11 năm vừa tiến hành đàm phán đa phương với WTO vừa đàm phán song phương với các thành viên chủ chốt của tổ chức này, ngày 07 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO.2 Ảnh hưởng chủ yếu của WTO đến các quốc gia thành viên 14 z WTO là diễn đàn để các nước thành viên tiến hành các thoả thuận, thương lượng về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ… nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên. Tham gia diễn đàn này, các nước thành viên được hưởng những quyền và lợi ích cơ bản như: được giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các Công ước quốc tế.
Cụ thể: - Tham gia vào WTO, các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, khuyến khích các nước này hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. - WTO quy định các nước thành viên được hưởng chế độ Đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN), tức là không phân biệt đối xử giữa hàng hoá và dịch vụ của các nước thành viên khác nhau và chế độ Đãi ngộ quốc gia (NT) - các nước thành viên không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ trong nước và nhập khẩu. Điều này giúp hàng hóa tự do trao đổi giữa các nước thành viên, đẩy nhanh quá trình thương mại quốc tế. - Đặc biệt với các nước thành viên đang phát triển, WTO dành cho một số ưu đãi nhất định như: có một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụ hay có thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách cho phù hợp.
Chẳng hạn, WTO quy định trong vòng 6 năm (từ 1995 đến năm 2000), các thành viên phát triển phải giảm 36% thuế quan trung bình đối với hàng nông nghiệp, ít nhất giảm 15% cho mỗi sản phẩm, đối với các nước đang phát triển sẽ giảm 24% trong vòng 10 năm (từ 1995 đến 2004), ít nhất 10% cho mỗi sản phẩm, các nền kinh tế chuyển đổi giảm trung bình 36% [10,159]. 15 z Bên cạnh những lợi ích thì các nước thành viên cũng phải thực hiện một số trách nhiệm như: không được phép sử dụng các hạn chế về số lượng, “chỉ bảo hộ bằng thuế quan”. Việc sử dụng các hàng rào phi thuế khác phải dỡ bỏ, nới lỏng và việc áp dụng các biện pháp hỗ trợ nông nghiệp phải tuân thủ những quy định của WTO. Vì vậy, các nước thành viên đang dần chuyển từ các hình thức trợ cấp trước đây như cấp phép nhập khẩu, trợ cấp… sang sử dụng các hàng rào vệ sinh, kỹ thuật, các biện pháp tự vệ… 1.2 Các hiệp định và quy định cơ bản của WTO liên quan đến nông nghiệp 1.1 Hiệp định nông nghiệp (AoA) Hiệp định Nông nghiệp của WTO nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế đối với sản phẩm nông nghiệp.
Mục đích chủ yếu của Hiệp định này là nhằm cải cách các điều kiện đối với thương mại hàng nông sản và làm cho lĩnh vực này định hướng thị trường hơn, với mong muốn tiến tới sự ổn định và an toàn trong lĩnh vực nông nghiệp đối với cả nước xuất siêu và nước nhập siêu. Hiệp định nông nghiệp tập trung cơ bản vào ba nội dung: mở cửa thị trường; trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước. Về mở cửa thị trường: Theo điều 4 của hiệp định này các nước trước đây áp dụng các biện pháp phi thuế quan (ví dụ: hạn chế định lượng, giấy phép không tự động và thuế biến đổi) đều bị yêu cầu bãi bỏ thay thế bằng thuế nhập khẩu bị ràng buộc ở mức bảo hộ tương đương hoặc thấp hơn. Việc chuyển từ các biện pháp phi thuế sang biện pháp thuế được gọi là “thuế hoá”.
Các quốc gia thành viên đồng ý cắt giảm thuế nhập khẩu theo tỉ lệ cố định. Các nước phát triển và chuyển đổi phải giảm thuế 36% theo bình quân trong thời hạn 6 năm từ 1995 đến 2000, ít nhất là 15% đối với mỗi dòng thuế. Các nghĩa vụ tương đương đối với các nước đang phát triển là 24% trong vòng 10 năm từ 1995 đến 2004 và ít nhất 10% đối với mỗi sản phẩm [10, 159]. 16 z Tuy nhiên, các hàng rào phi thuế quan cũng không bị loại bỏ hoàn toàn.
Các thành viên được phép sử dụng một số biện pháp phi thuế như các biện pháp vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động, thực vật để bảo vệ con người và động, thực vật khỏi rủi ro từ thực phẩm nảy sinh do việc sử dụng các chất kích thích, các chất gây ô nhiễm, độc tố và các sinh vật gây bệnh hay việc bảo vệ động, thực vật khỏi những dịch bệnh có thể tác động đến sản xuất nông nghiệp. Việc ràng buộc mọi dòng thuế đối với nông sản cũng được tất cả các nước (phát triển, đang phát triển và kém phát triển) đồng ý để không tăng quá mức đã cam kết trong Biểu nhượng bộ của các nước. Các nước đang phát triển và kém phát triển được linh hoạt hơn khi ràng buộc các mức thuế, thuế trần có thể cao hơn so với mức thuế áp dụng thực tế. Về trợ cấp xuất khẩu: Đây là dạng hỗ trợ được coi là các biện pháp bóp méo nhất đối với thương mại của các chính phủ.
Các trợ cấp này được sử dụng để hỗ trợ nông dân hay người sản xuất bán các sản phẩm của họ trên thị trường quốc tế. Các nước phải cam kết cắt giảm lượng trợ cấp xuất khẩu dựa trên mức cơ sở đã cam kết, theo đó các nước phát triển phải giảm khối lượng hàng hoá hưởng trợ cấp là 21% và giảm chi tiêu cho trợ cấp là 36% trong giai đoạn 1995 - 2000. Với những nước đang phát triển, mức cam kết cắt giảm là 14% về khối lượng hưởng trợ cấp và giảm 24% các khoản chi tiêu cho trợ cấp trong giai đoạn 10 năm từ 1995 - 2004. Bất kì một loại hình trợ cấp xuất khẩu mới nào đều bị cấm áp dụng [10, 04].
Về hỗ trợ trong nước: Các cam kết cắt giảm mức hỗ trợ trong nước làm bóp méo thương mại mà một nước dành cho nông nghiệp được thể hiện ở mức Tổng các biện pháp hỗ trợ gộp hay “Các mức cam kết ràng buộc hàng năm và cuối cùng”. Mức tổng các biện pháp hỗ trợ gộp (“Tổng AMS”) là tổng số những hỗ trợ trong nước được cung cấp để hỗ trợ các nhà sản xuất 17 z nông nghiệp. Mức này được tính toán là tổng các hỗ trợ đối với các sản phẩm nông nghiệp, các biện pháp hỗ trợ không cụ thể và tất cả “các biện pháp tương đương” (một cách tính các hỗ trợ gộp đối với các sản phẩm trong trường hợp không thể tính được một cách chi tiết). Hiệp định nông nghiệp cũng đặt ra mức tối đa đối với Tổng AMS mà mỗi quốc gia thành viên tính toán và báo cáo theo một mẫu sẵn có trong bản ACC/4 và phải cam kết giảm từ tổng mức đó.
Dựa trên cơ sở tác động của hỗ trợ trong nước đến sản xuất và thương mại nông nghiệp, AoA chia hỗ trợ trong nước ra làm ba dạng hộp khác nhau là: Hộp hổ phách, Hộp xanh lá cây và Hộp xanh lam. Hộp hổ phách là những hỗ trợ mang tính bóp méo thương mại rõ ràng do vậy không được miễn và buộc phải cắt giảm. Mức độ hỗ trợ của chính phủ cho ngành nông nghiệp trong hộp Hổ phách được tính bằng “Tổng mức hỗ trợ gộp” (AMS). Những ví dụ về hỗ trợ Hổ phách là trợ giá, xoá nợ, giãn nợ cho nông dân và các nhà máy chế biến nông sản.
các khoản hỗ trợ theo hình thức này bị hạn chế theo Hiệp định về nông nghiệp tại vòng đàm phán Urugoay. Theo đó các nước phát triển phải giảm 20% của Tổng AMS trong 5 năm từ 1995 đến 2000 và các nước đang phát triển mức giảm là 13,3% trong 10 năm từ 1995 đến 2004 [10, 04]. Hộp xanh lá cây: Bao gồm các trợ cấp có mức độ làm bóp méo thương mại ít hơn hộp hổ phách. Loại hỗ trợ này bao gồm các chương trình chi trả trực tiếp nhằm hỗ trợ thu nhập của người nông dân.
Những ví dụ về hộp xanh lá cây là việc các chính phủ chi tiêu cho các công trình công cộng phục vụ nông nghiệp và nông dân như: làm thuỷ lợi, khuyến nông, nghiên cứu giống. Hộp xanh lam: là những hỗ trợ được coi là ít ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng đến thương mại và sản xuất nông nghiệp. Trong hiệp định về nông nghiệp, kiểu hỗ trợ này được loại trừ khỏi diện cắt giảm vì nó không bị coi là 18 z tác nhân dẫn đến bóp méo thương mại.