Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ DƯỢC LIỆU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị 1. Các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị ở nước ngoài Đến nay, trên thế giới, đã có nhiều cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị khác nhau, theo Kaplinsky và Morris (2001) thì không có cách tiếp cận nào là “chuẩn nhất”. Về cơ bản, phương pháp phân tích cụ thể phụ thuộc vào câu hỏi nghiên cứu và đặc điểm của sản phẩm nghiên cứu.
Với cách nhìn đó, NCS tổng hợp được một số kết quả nghiên cứu về chuỗi giá trị như sau: *) Một số kết quả nghiên cứu mang tính lý luận, cung cấp những kiến thức cần thiết và kỹ năng trong phân tích chuỗi Raphael Kaplinsky & Mike Morris (2006) “Cẩm nang nghiên cứu chuỗi giá trị”. Cuốn cẩm nang đưa ra các khái niệm cơ bản của chuỗi giá trị; xác định các vấn đề nghiên cứu mở rộng cho chuỗi giá trị; giới thiệu cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chuỗi; chỉ dẫn các chính sách liên quan đến định hướng, đầu tư phát triển chuỗi. Meijer, (2006), “Hướng dẫn phân tích chuỗi giá trị”, FAO, Kaplinsky, R and M, Morris, (2000), “Cẩm nang nghiên cứu chuỗi giá trị”. Đây được coi là các cẩm nang hướng dẫn phân tích chuỗi giá trị thông qua phân tích bản đồ thị trường, lấy vùng đất Chiapas (Mexico) làm trường hợp nghiên cứu điển hình.[63]; [49] Nghiên cứu chỉ ra các mắt xích như: Chọn vùng đất nghiên cứu, phân phối hạt giống, người nông dân, thương lái,… và áp dụng nghiên cứu cho cả Bolivia và Ecuador.
GTZ (2007) xuất bản cuốn “Cẩm nang giá trị, phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị”. Cẩm nang đã đưa ra các thuật ngữ để chỉ việc tập hợp có hệ thống các phương pháp thực tiễn nhằm theo dõi sự phát triển kinh tế từ quan điểm của chuỗi giá trị. Cẩm nang cung cấp những kiến thức cơ bản về luan an 6 các cách thức nâng cao cơ hội việc làm và thu nhập từ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ và các hộ nông dân thông qua việc thúc đẩy chuỗi giá trị mà họ đang hoạt động trong chuỗi đó. Đồng thời, nhấn mạnh thị trường sản phẩm mang lại nhiều cơ hội cho người nghèo.[42] Da SLĐva, C and H.
De Sousa FLĐho (2007), “Hướng dẫn đánh giá nhanh thực hiện chuỗi nông sản ở các nước đang phát triển”, nhóm tác giả đã đưa ra một số thông tin hữu ích: Cung cấp thông tin về các nguyên tắc cơ bản của phân tích chuỗi, làm nổi bật tầm quan trọng của việc lập kế hoạch và thực hiện cũng như các kiến nghị; Hỗ trợ lựa chọn các thông tin cần thiết cho việc phân tích, cũng như các phương pháp thu thập, tổ chức và đánh giá; Định hướng trong việc xác định các vấn đề ảnh hưởng đến hiệu suất dây chuyền và khu vực có thể được xem là điểm đòn bẩy cho sự tăng trưởng và phát triển hơn nữa; Đề xuất một cách tiếp cận chung đối với can thiệp chuỗi nhằm cải thiện hiệu suất, với việc xác định trách nhiệm các bên liên quan trong quá trình thực hiện; Đề xuất một cách tiếp cận chung cho các ưu tiên của các can thiệp chuỗi; Chỉ ra những hạn chế và khó khăn tiềm tàng khi tiến hành phân tích chuỗi [53]. FAO (2007), “Quản lý chuỗi cung ứng nông - công nghiệp: Các khái niệm và vận dụng”. Công trình này chỉ ra chuỗi cung ứng trong nông nghiệp, bao gồm các yếu tố đầu vào cần thiết cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đồng thời, cho biết cách tiếp cận của chuỗi cung ứng đi từ khái niệm đến thực tiễn ứng dụng. Tuy nhiên, chuỗi cung ứng rất rộng, hàm chứa cả chuỗi giá trị bên trong nó và việc xác định chuỗi giá trị cho nông nghiệp chỉ mang tính chung chung.
Zschocke (2006), “Phương pháp cùng tham gia trong tiếp cận chuỗi thị trường (PMCA) – hướng dẫn sử dụng”. Trong nghiên cứu này tác giả đề cập đến 4 điểm cơ bản: (i) Các nhà nghiên cứu và sự phát triển nhân viên để đạt được những hiểu biết và kỹ năng quan luan an 7 trọng cho phép họ thích ứng và sử dụng PMCA trong bối cảnh công việc của mình; (ii) Các nhà quản lý dự án R&D và các nhà hoạch định chính sách hiểu kế hoạch và giám sát định hướng nhu cầu nhằm đạt được cho chuỗi thị trường mục tiêu; (iii) Giáo viên và học sinh để tìm hiểu thêm về phát triển nông thôn, khả năng cạnh tranh chuỗi thị trường, sự tham gia R&D, và marketing; (iv) Các khái niệm phát triển khác nhau và các công cụ thực tế được mô tả một cách hữu ích. *) Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản cụ thể FAO (2004) cũng có nghiên cứu về “Chuỗi giá trị quả xoài ở Kenya”. Nghiên cứu này cho thấy chuỗi giá trị xoài Kenya gặp các cản trở về cơ cấu chất lượng sản phẩm: Tỷ lệ quả xoài không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu cao, đặc biệt sang thị trường khó tính như châu Âu và Mỹ; Kenya cần tập trung cho chế biến xoài xuất khẩu và tận dụng số xoài không có khả năng xuất khẩu vào các mục đích khác; về dài hạn, cần phải nâng cao năng lực kỹ thuật của nông dân để nâng cao chất lượng xoài đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu.
Gooch và cộng sự (2009), đã sử dụng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá: “Thị thường và quản lý chất lượng nho tươi, táo tươi và chế biến và nhiều hoa quả khác của vùng Ontario, Canada”. Hosni and Lancon (2011), đã tìm hiểu: “Chuỗi giá trị táo của Syris trên thị trường nước ngoài”. Các công trình nghiên cứu này chỉ ra rằng, để xuất khẩu táo thì Syris cần phải giải quyết những tồn tại trong chuỗi giá trị táo hiện tại; Các tổ chức khuyến nông cần phải phát triển và cung cấp nhiều giống táo mới; Đồng thời, cần có các tổ chức xếp loại và đánh giá chất lượng táo độc lập để làm giảm các rủi ro về chất lượng. Phương pháp tiếp cận của UNIDO (2009), trong “Phân tích và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp”, trong cẩm nang làm việc của nhân viên cho thấy, sự phát triển của chuỗi giá trị trong nông nghiệp bằng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi, lập bản đồ chuỗi giá trị nông nghiệp, phân tích dữ liệu của luan an 8 chuỗi, các chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị.
Nghiên cứu này cũng kiến nghị giải pháp phát triển chuỗi giá trị bằng cách cải thiện môi trường kinh doanh, xây dựng và thực hiện các chính sách, tăng cường hỗ trợ từ các thể chế, cải thiện môi trường đầu tư. Nghiên cứu đã đưa ra các minh chứng từ các nghiên cứu trường hợp, điển hình như ở Nicaragoa, Ethiopia, Ai Cập và Morroco. Báo cáo của ADB (2005) và FAO (2008) về “Chuỗi giá trị ngành khoai tây” và đã đề cập đến vấn đề, làm thế nào để tăng sự bền vững của chuỗi giá trị khoai tây. Họ đã chỉ ra được một số vấn đề đang gặp phải ở các nước đang phát triển như: Khoai tây thường được bán phân tán với những phân đoạn thị trường nhỏ lẻ và ít có sự liên kết, phối hợp và thiếu những thông tin về thị trường, điều này đang gây ra sự chia rẽ các mối quan hệ trong chuỗi; giá cả đầu vào tăng cao đang gây ra sự “e dè” trong đầu tư sản xuất của các hộ nông dân có quy mô sản xuất nhỏ lẻ.
Hậu quả là, họ đang bị loại dần ra khỏi thị trường và không tham gia được vào chuỗi giá trị; vấn đề quan trọng đặt ra cho chuỗi giá trị ở các nước này là cần một nền sản xuất bền vững, với chất lượng sản phẩm tốt và sự hỗ trợ về các vật tư đầu vào cùng với sự phối hợp hành động trong chuỗi. Eaton và Shepherd (2001), đã có một nghiên cứu về: “Chuỗi giá trị ngành Chè tại Kenya và Cacao tại Indonesia”. Tác giả tập trung vào vấn đề chuỗi giá trị và giải pháp sinh kế bền vững, chỉ ra được những vấn đề mà chuỗi giá trị ngành Chè Kenya, chuỗi giá trị ngành Cacao Indonesia gặp phải và những vấn đề liên quan đến sinh kế của những người sản xuất nhỏ, những người dễ bị tổn thương. Công trình này cũng cung cấp những nghiên cứu về cấu trúc thị trường, kênh tiêu thụ trong chuỗi giá trị, mối quan hệ tương tác giữa những kênh tiêu thụ đó.
Điều quan tâm của nghiên cứu này là những “mối quan hệ” giữa các tác nhân, những tác động của mô hình tổ chức sản xuất đến những người nắm giữ những tư liệu sản xuất nhỏ và những người làm thuê. Họ chỉ ra rằng, với các nước chậm phát triển như Kenya và luan an 9 Indonesia, chuỗi giá trị hoạt động chưa được tốt, nghĩa là các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị chưa có những mối quan hệ ràng buộc, GTGT trong chuỗi còn thấp, đặc biệt người sản xuất là những người hưởng lợi nhuận thấp nhất. Chính vì chưa có mối quan hệ ràng buộc nên những tác nhân đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi thường là đối tượng hưởng lợi nhuận nhiều nhất và sẵn sàng rời bỏ chuỗi này để chuyển sang chuỗi mới có lợi nhuận cao hơn. *) Một số kết quả nghiên cứu về quản lý chuỗi Gereffi G, J.
Sturrgeon (2005), “Quản lý chuỗi giá trị toàn cầu”. Dựa trên khung phân tích lý thuyết về chuỗi, các tác giả giải thích rõ chuỗi giá trị toàn cầu, chỉ ra được 3 dòng luân chuyển trong chi phí kinh tế là: Mạng lưới sản xuất, khoa học công nghệ và mức độ hiểu biết của công ty nhằm xác định được 3 vai trò lớn trong việc định rõ sự thay đổi và sự quản lý chuỗi giá trị toàn cầu. Ba vai trò đó là: Sự phức hợp trong giao dịch; khả năng lập những cam kết trong giao dịch và khả năng trong chuỗi cơ bản. and Van der Vorst, J.
“Quản lý chuỗi cung ứng môi trường: sử dụng đánh giá vòng đời để cấu trúc chuỗi cung ứng”, các tác giả đã cho biết sự khác biệt giữa các chiến lược chuỗi để bảo vệ môi trường và sự thực thi của chuỗi trong môi trường; sự khác biệt giữa cách đánh giá các vòng đời cấu trúc chuỗi; giữa quá trình thực hiện và định hướng thị trường cấu trúc chuỗi. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng, sự tích hợp của những sự khác biệt về đánh giá vòng đời cấu trúc chuỗi mang lại sự khác biệt giữa các cấu trúc chuỗi. Chopra SunLĐ và Pter Meindl (2001), “ Quản lý chuỗi cung ứng: Chiến lược, kế hoạch và vận hành”.