MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp, có truyền thống sản xuất các sản phẩm nông – lâm – thủy sản. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính chung cả năm 2017, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 213,77 tỷ USD, tăng 21,1% so với năm trước và là mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Tổng giá trị xuất khẩu năm 2017 của lĩnh vực nông lâm thủy sản đạt mức kỷ lục mới với 36,37 tỷ USD, tăng 13% so cùng kỳ.
Nông sản Việt Nam hiện đã được xuất khẩu đến 180 quốc gia trên thế giới, giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng nhanh và bền vững. Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO giá trị kim ngạch XKNS mới đạt 12,6 tỷ USD, trong đó có 10 nhóm ngành hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD mỗi năm. Xuất khẩu nông sản (XKNS) luôn duy trì mức xuất siêu trung bình 7-8 tỷ USD/năm, góp phần quan trọng hạn chế thâm hụt trong cán cân thương mại quốc gia. Nông sản là mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống hằng ngày của con người.
Nền kinh tế phát triển và đời sống của con người được nâng cao làm cho nhu cầu đó cũng tăng cả về số lượng và chất lượng trên toàn thế giới. Tuy nhiên việc sản xuất và xuất khẩu nông sản không hề dễ dàng do nông sản là mặt hàng có nhiều nét đặc thù riêng như tính thời vụ, tính thiết yếu. Không chỉ thế mà hoạt động này còn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khách quan, chủ quan khác. Trong khi các yếu tố chủ quan như trình độ sản xuất, năng suất lao động, khả năng quản lý… cần phải có thời gian để phát triển thì hoạt động này không ngừng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như tình hình kinh tế, chính trị thế giới, lãi suất, điều kiện tự nhiên… XKNS vì thế cũng là lĩnh vực tiềm ẩn không ít rủi ro như trong quá trình vận chuyển, rủi ro về giá cả, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất.
và đặc biệt là các rủi ro liên quan đến các rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Những năm qua, đã có không ít trường hợp các mặt hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu bị trả về hoặc không được thông quan do nhiều lý do khác nhau. Ví dụ như năm 2001, đơn hàng 10.000 tấn gạo của Việt Nam xuất khẩu sang Iraq bị trả về do bị nhiễm nước mặn. Hay như năm 2011, khoảng 600 tấn mật ong của Việt Nam đã bị cơ quan dược phẩm Mỹ trả về do nhiễm phải thuốc trừ nấm có tên là Carbenzamin mặc dù dư lượng chất này trong mật ong của Việt Nam thấp hơn nhiều so với quy định của CODEX.
Nhiều mặt hàng nông sản như tiêu, điều. của Việt Nam chiếm đến 50% thị phần thị trường thế giới, nhưng vẫn không làm chủ luan an 2 được thị trường do yếu thế về chất lượng. Do vậy, mặc dù thuộc nhóm doanh nghiệp (DN) được ưu tiên theo Thông tư số 86/2013/TT-BTC ngày 27/6/2013 những những DN XKNS của Việt Nam vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi đối diện với những rủi ro này. Đối mặt với rất nhiều rủi ro trong khi các DN Việt Nam chủ yếu mới chỉ thực hiện các hoạt động kiểm soát rủi ro (KSRR) để chuyển giao rủi ro hay đơn giản chỉ là chấp nhận rủi ro chưa có sự am hiểu, ứng dụng biện pháp đồng bộ về KSRR một cách hiệu quả.
Các nghiên cứu về lĩnh vực này cũng chưa tiếp cận rủi ro trong kinh doanh XKNS một cách hệ thống mà thường nghiên cứu tách biệt về nhận diện rủi ro, phân tích rủi ro, KSRR hoặc các hoạt động tác nghiệp để quản trị rủi ro. Rủi ro trong XKNS là không thể tránh khỏi. Mặc dù vậy, KSRR sẽ giúp cho các DN chủ động hơn trong vấn đề đối mặt với rủi ro. KSRR đòi hỏi cần phải có kim chỉ nam trong hành động, từ chiến lược vĩ mô tổng thể tới những biện pháp vi mô cụ thể.
Điều này đỏi hòi DN phải có những kiến thức và kinh nghiệm phù hợp để tiến hành KSRR. Xuất phát từ yêu cầu trên, tác giả đã lựa chọn nội dung “Kiểm soát rủi ro trong xuất khẩu nông sản của các doanh nghiệp Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình. Tổng quan nghiên cứu Tổng quan nghiên cứu được tiến hành theo vấn đề nghiên cứu, gồm 02 phần chính là tìm hiểu những nghiên cứu về XKNS và những nghiên cứu về quản trị, phòng ngừa, KSRR trong XKNS. * Phần thứ nhất, những nghiên cứu về xuất khẩu nông sản Ngô Thị Tuyết Mai (2007) ở cấp độ luận án tiến sĩ đã có nghiên cứu về sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, thống kê. Tác giả cũng sử dụng phương pháp thu thập thông tin truyền thống, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích ngành sản phẩm, phương pháp phân tích kinh doanh để tập hợp phân tích các vấn đề lý luận, thực tiễn một cách có hiệu quả. Dữ liệu sử dụng để phân tích là những nội dung về khả năng cạnh tranh hàng nông sản nước ta trong giai đoạn 1996-2006. Luận án đã có điểm mới khi hệ thống hóa những lý luận về cạnh tranh và sức cạnh tranh của hàng hóa và đánh giá thực trạng sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam như luan an 3 gạo, cà phê, chè, cao su… Từ những vấn đề lý luận và thực trạng nghiên cứu được, tác giả đã nêu ra 05 quan điểm chủ yếu định hướng cho các giải pháp và tám nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới.
Với cách tiếp cận cơ sở lý luận mới và sự đánh giá thực trạng rõ ràng, nhìn thẳng vào thực tế, đề tài thực sự rất hữu ích và có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển ngành nông nghiệp nước nhà. Một đề tài khác cho luận án tiến sĩ của Nguyễn Minh Sơn (2008) về các giải pháp kinh tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam cũng được nghiên cứu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Dữ liệu trong đề tài này được phân tích rộng hơn, từ năm 1995 đến năm 2008. Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu truyền thống như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh và phương pháp dự tính, dự báo để đánh giá thực trạng và đưa ra những dự báo về tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới.
Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về xuất khẩu nông sản cũng như đánh giá được thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam, qua đó làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân trong quá trình phát triển sản xuất và xuất khẩu nông sản. Đề tài cũng đề xuất được các quan điểm, mục tiêu, phương hướng và kiến nghị giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đề tài rất hữu ích cho việc xuất khẩu nông sản Việt Nam bằng việc chỉ ra rõ thực trạng và đưa ra các giải pháp thiết thực khá đầy đủ và cần thiết, trong đó, nhiều giải pháp đã làm rõ được mức độ, phạm vi và các nội dung khá cụ thể có tính thực tiễn. Đây là một trong những đóng góp quan trọng trước yêu cầu hội nhập và phát triển đối với ngành nông nghiệp nước nhà.
Tác giả Đinh Văn Thành (2010) đã có một nghiên cứu cấp nhà nước một cách toàn diện về “Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam”. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước; phương pháp phân tích sô liệu thực tiễn và phương pháp phân tích điển hình một số lĩnh vực nông nghiệp và tại một số nước, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi hàng nông sản tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nghiên cứu tiến hành phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng năng lực tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu cũng như đi sâu phân tích, đánh giá cụ thể năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của 9 mặt hàng nông sản Việt Nam. Thông qua luan an 4 nghiên cứu, đề tài đã rút ra những thuận lợi và khó khăn cơ bản trong tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của hàng nông sản Việt Nam để làm cơ sở xây dựng các chính sách, giải pháp nhằm nâng cao năng lực tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đề tài đề xuất bốn nhóm giải pháp chung và bốn nhóm giải pháp cụ thể cho mỗi mặt hàng nghiên cứu. Về mặt kết quả, đề tài đã hệ thống hóa, luận giải và bổ sung nhận thức về chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản; những đặc điểm của chuỗi giá trị hàng nông sản; các mô hình chuỗi giá trị hàng nông sản, các điều kiện tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; nội hàm và các tiêu chí xác định năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, xây dựng một khung phân tích chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu làm cơ sở lý thuyết để phân tích các chuỗi giá trị hàng nông sản cụ thể cũng như nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc nâng cao năng lực tham gia vào chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu. Đây thực sự là một nghiên cứu bổ ích, cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quan về ngành nông nghiệp nước ta.
Mặc dù đề cập hạn chế đến rủi ro và hoạt động kiểm soát rủi hàng nông sản, nhưng nghiên cứu có thể đóng vai trò tích cực trong việc nghiên cứu tình hình XK nông sản nước ta.