phần mở đầu, mục lục, danh mục các bảng, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài chia làm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh và tổng quan hoạt động của ngành Xây dựng. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Luan van 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG NGÀNH XÂY DỰNG.1 HIỆU QUẢ KINH DOANH 1.1 Khái niệm: Hiệu quả của doanh nghiệp là đánh giá khả năng đạt đƣợc kết quả, khả năng sinh lãi của doanh nghiệp do mục đích cuối cùng của ngƣời chủ sở hữu, của nhà quản trị là bảo đảm sự giàu có, sự tăng trƣởng tài sản của doanh nghiệp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, doanh nghiệp phải sử dụng và phát triển tiềm năng kinh tế của mình. Không đảm bảo đƣợc khả năng sinh lãi, lợi nhuận tƣơng lai sẽ không chắc chắn, giá trị của doanh nghiệp sẽ bị giảm, ngƣời chủ có nguy cơ bị mất vốn.
Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đƣợc đặc trƣng bởi việc xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ các phƣơng tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ cũng nhƣ các chính sách tài trợ. Do vậy hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp đƣợc xem xét trên hai phƣơng diện hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính. Theo giáo trình Phân tích tài chính - Đại học Đà Nẵng “Hiệu quả kinh doanh là xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ các phƣơng tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ. HQKD thể hiện sự tƣơng quan giữa kết quả đầu ra với các nguồn lực đầu vào sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN.”[6] Để đạt HQKD cao, DN cần tối đa hóa các kết quả đầu ra trong điều kiện các nguồn lực hạn chế của mình.
HQKD thể hiện mối quan hệ tƣơng đối giữa kết quả kinh doanh và phƣơng tiện tạo ra kết quả nên chỉ tiêu phản ánh HQKD thƣờng có dạng nhƣ công thức. Hiệu quả = Luan van 12 1.2 Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp Hiện nay với sự vận động đa dạng và phức tạp của cơ chế thị trƣờng dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp. Trong khi đó các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm nhƣng nhu cầu của con ngƣời lại ngày càng đa dạng. Chính vì vậy để có thể tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định cho mình một phƣơng thức hoạt động riêng, xây dựng các chiến lƣợc, các phƣơng án kinh doanh phù hợp và có hiệu quả.
Nhƣ vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả ảnh hƣởng vô cùng quan trọng đến doanh nghiệp, đƣợc thể hiện thông qua các vai trò sau: Hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp: Sự tồn tại của doanh nghiệp đƣợc xác định bởi sự tạo ra hàng hóa, của cải vật chất và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Do đó doanh nghiệp phải đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá trình hoạt động. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải có sự tích lũy cho quá trình tái sản xuất mở rộng. Nhƣng trong điều kiện các yếu tố của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt hiệu quả.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện tái sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ tiên tiến hiện đại…Sản xuất kinh doanh có hiệu quả cũng là tiền đề để nâng cao phúc lợi cho ngƣời lao động từ đó kích thích ngƣời lao động tăng năng suất lao động. Hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong kinh doanh: Cạnh tranh là yếu tố làm doanh nghiệp mạnh lên nhƣng cũng có thể khiến doanh nghiệp không thể tồn tại đƣợc trên thị trƣờng. Thị trƣờng ngày càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh về số lƣợng mà cạnh tranh cả về chất lƣợng sản phẩm, giá cả và các yếu tố Luan van 13 khác.
Do đó doanh nghiệp phải cung cấp đƣợc sản phẩm, dịch vụ với chất lƣợng tốt, giá cả hợp lý. Mặt khác hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng doanh thu, nhƣng chất lƣợng không ngừng đƣợc nâng cao,.Vì vậy, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các phƣơng thức quản lý hiện đại sẽ đƣợc áp dụng thúc đẩy sự tiến bộ trong sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh là điều kiện thực hiện mục tiêu bao trùm của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận: Để có đƣợc lợi nhuận, doanh nghiệp phải tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trƣờng. Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụng một số nguồn lực nhất định.
Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiệm các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu đƣợc nhiều lợi nhuận. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tƣơng đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên đây là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh Nhƣ đã nêu ở mục 1.1 hiệu quả kinh doanh đƣợc phân tích theo công thức: Hiệu quả = Trong công thức này kết quả kinh doanh thƣờng là lợi nhuận hoặc doanh thu, trong đó nhà phân tích có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu lợi nhuận (lợi nhuận sau thuế thu nhập DN, lợi nhuận kế toán trƣớc thuế, lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay, lợi nhuận thuần của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận gộp). Phƣơng tiện tạo ra kết quả cũng đƣợc thể hiện qua nhiều chỉ tiêu nhƣ tài sản (tổng tài sản, từng loại tài sản), tổng vốn đầu tƣ, vốn chủ sở hữu, chi phí, thậm chí là doanh thu (trong trƣờng hợp kết quả kinh doanh thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận). Do có nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cũng Luan van 14 nhƣ phƣơng tiện tạo ra kết quả đó nên có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh HQKD của DN và mỗi chỉ tiêu đó sẽ thể hiện một ý nghĩa nhất định.
a) Hiệu quả cá biệt: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt đƣợc xây dựng cho từng quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phƣơng tiện, từng nguồn lực đƣợc sử dụng với kết quả mà doanh nghiệp đạt đƣợc. Hiệu suất sử dụng tài sản = Hiệu suất sử dụng TSCĐ = NSLĐ năm = NSLĐ ngày = Số vòng quay = (vòng) b) Hiệu quả tổng hợp: Các chỉ tiêu này thể hiện khả năng sử dụng một cách tổng hợp tất cả các nguồn lực để tạo ra kết quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = x100% Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần ( SXKD) = Tỷ suất lợi nhuận hoạt động SXKD = x 100% Phân tích khả năng sinh lời tài sản Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời tài sản = x 100% Luan van 15 Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) sẽ giúp nhà quản lý doanh nghiệp trả lời câu hỏi: "Những gì doanh nghiệp có thể làm đƣợc với các tài sản mà doanh nghiệp có sẵn". Nếu nhƣ giá trị chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy khả năng quản lý của doanh nghiệp.
Do đó, tỷ suất sinh lợi của tài sản là kết quả tổng hợp của những cố gắng của doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả cá biệt của các yếu tố sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh, là kết quả của nỗ lực mở rộng thị trƣờng tiêu thụ, tăng doanh số và tiết kiệm các chi phí. Điều này đƣợc thể hiện thông qua sơ đồ phƣơng trình Dupont. Cách phân tích này còn chỉ ra phƣơng hƣớng nâng cao sức sinh lời tài sản của doanh nghiệp. Cụ thể: chênh lệch về hiệu quả kinh doanh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc là kết quả tổng hợp ảnh hƣởng của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản, thể hiện qua công thức ROA = AH L.S AH LN/DT là ảnh hƣởng của sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
Thực chất đây là ảnh hƣởng của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí. Nó chỉ liên quan chủ yếu đến vấn đề tiêu thụ, vấn đề bán hàng tại doanh nghiệp và đƣợc tính theo công thức sau : AH L.S là ảnh hƣởng của sự thay đổi của tỷ suất doanh thu trên tài sản. Đây chính là hiệu quả của quá trình quản lý và sản xuất của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp tổ chức tốt việc sản xuất, tiết kiệm vốn thì số vòng quay vốn tăng, hiệu quả này sẽ tăng lên.T 0, 1 là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của kỳ gốc, kỳ phân tích.S 0,1 là tỷ suất của doanh thu trên tài sản của kỳ gốc, kỳ phân tích Luan van 16 KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA TS LỢI NHUẬN/DOANH THU DOANH THU/TÀI SẢN LỢI NHUẬN DOANH THU DOANH THU TÀI SẢN THU NHẬP TÀI TÀI SẢN DÀI HẠN DOANH THU CHÍNH DOANH THU BÁN CHI PHÍ TÀI SẢN NGẮN HẠN BIẾN PHÍ ĐINH PHÍ Hình 1.1 Phương trình Dupont Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) đƣợc sử dụng trong nội bộ của doanh nghiệp để theo dõi tình hình sử dụng tài sản theo thời gian, theo dõi hoạt động của doanh nghiệp trong tình hình chung của ngành và so sánh với các doanh nghiệp trong cùng ngành.
Patricia Fairfield và Teri Lombardi Yohn đã thực hiện một nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi của tài sản. Họ đã chứng minh đƣợc rằng phân tích sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi của tài sản có vai trò quan trọng trong việc dự báo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tƣơng lai. Tỷ suất sinh lợi kinh tế của tài sản (RE) Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) đã phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên kết quả về lợi nhuận còn chịu tác động bởi thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc nguồn vốn.