phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đƣợc kết cấu thành bốn chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng 2:Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Phân tích các căn cứ hình thành chiến lƣợc kinh doanh của Công ty Cổ phần Vinaconex 25. Chƣơng 4: Đề xuất và lựa chọn chiến lƣợc kinh doanh xây lắp cho Công ty Cổ phần Vinaconex 25, giai đoạn 2015 - 2020.
1 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Chiến lƣợc và chiến lƣợc kinh doanh 1. Chiến lƣợc Thuật ngữ “chiến lƣợc”có nguồn gốc từ thời cổ đại, đầu tiên nó đƣợc dùng trong quân sự với nghĩa là những mƣu tính nhằm chiến đấu để giành chiến thắng. Dần dần, chiến lƣợc đƣợc sử dụng trong các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội.
Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, quản trị chiến lƣợc bắt đầu đƣợc nghiêm cứu từ những năm 50 của thế kỷ XX.Trãi qua nhiều công trình nghiêm cứu, quan niệm về chiến lƣợc kinh doanh phát triển dần theo thời gian và ngƣời ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau. Quinn (1980) đã định nghĩa: chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi các hành độngvào trong một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ. Johnson và Schole (1999) định nghĩa: Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm giành lợi thế cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan. (Ngô Kim Thanh, 2012) Để hiểu rõ hơn các khía cạnh của chiến lƣợc, có thể tham khảo định nghĩa chiến lƣợc với 5 chữ P của Mintzberg (1994): (1) Plan (Kế hoạch): Một chuỗi các hành động đƣợc dự định một cách nhất quán.
(2) Pattern (Mô thức): Sự kiên định về hành vi. (3) Position (Vị thế): Sự phù hợp giữa tổ chức và môi trƣờng của nó. (4) Perspective (Quan niệm): Cách thức để nhận thức về thế giới. (5) Ploy (thủ thuật, mƣu lƣợc): Con đƣờng, kế sách, cách thức để đối phó với đối thủ.
Tóm lại, dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhƣng bản chất của chiến lƣợc trong kinh doanh là phác thảo hình ảnh trong tƣơng lai của DN thông qua ba nội dung: (1) Xác lập mục tiêu dài hạn của DN, (2) Đƣa ra các chƣơng trình hành động 1 z tổng quát, (3) Lựa chọn phƣơng án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Phân loại chiến lƣợc Chiến lƣợc của một công ty có thể đƣợc xây dựng trên ba cấp: Chiến lƣợc cấp công ty, chiến lƣợc cấp đơn vị kinh doanh (thƣờng đƣợc gọi tắt là chiến lƣợc kinh doanh), chiến lƣợc cấp chức năng. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, ngƣời ta còn đề ra một cấp chiến lƣợc thứ 4: Chiến lƣợc toàn cầu. Chiến lƣợc cấp công ty (còn gọi là chiến lƣợc phát triển): hƣớng tới các mục tiêu cơ bản dài hạn trong phạm vi toàn công ty, xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm giành lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trƣờng sản phẩm.
Chiến lƣợc cấp công ty phải trả lời đƣợc câu hỏi “các hoạt động nào có thể giúp công ty đạt đƣợc khả năng sinh lời cực đại, giúp công ty tồn tại và phát triển?”. Chiến lƣợc cấp công ty gồm ba loại: (1) chiến lƣợc đa dạng hoá, (2) chiến lƣợc liên kết theo chiều dọc, (3) liên minh chiến lƣợc. Chiến lƣợc kinh doanh là tổng thể các cam kết và hành động giúp DN giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của công ty vào những thị trƣờng sản phẩm cụ thể. Vấn đề cơ bản mỗi DN cần giải quyết khi chọn chiến lƣợc kinh doanh là họ sẽ cung cấp cho khách hàng sản phẩm hay dịch vụ nào; cách thức tạo ra sản phẩm hay dịch vụ ấy; và làm thế nào để đƣa sản phẩm hay dịch vụ ấy đến với khách hàng.
Chiến lƣợc đơn vị kinh doanh liên quan đến : - Việc định vị hoạt động kinh doanh để cạnh tranh. - Dự đoán những thay đổi của nhu cầu, những tiến bộ khoa học công nghệ để thiết lập chiến lƣợc thích nghi và đáp ứng những thay đổi này. - Tác động và làm thay đổi tính chất của cạnh tranh thông qua các hoạt động chiến lƣợc.Theo Michael Porter (1987) có ba loại chiến lƣợc kinh doanh phổ quát: 1 z (1) chiến lƣợc dẫn đầu về chi phí thấp, (2) chiến lƣợc đặc trƣng hoá khác biệt (khác biệt hóa), (3) chiến lƣợc trọng tâm hóa. Chiến lƣợc cấp chức năng: là chiến lƣợc hƣớng đến cải thiện hiệu lực của các hoạt động cơ bản trong phạm vi công ty nhƣ sản xuất, marketing, quản trị vật liệu, nghiên cứu phát triển, nguồn nhân lực, tài chính…Mặc dù mỗi chiến lƣợc chức năng có thể tập trung vào một chức năng nhất định nhƣng để cải thiện hiệu lực của một khối cạnh tranh nào đó cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chức năng với nhau.
Chiến lƣợc bộ phận chức năng của tổ chức phụ thuộc vào chiến lƣợc ở các cấp cao hơn (chiến lƣợc kinh doanh và chiến lƣợc phát triển). Một khi chiến lƣợc ở các cấp cao hơn đƣợc thiết lập, các bộ phận chức năng sẽ triển khai đƣờng lối này thành các kế hoạch hành động cụ thể và thực hiện đảm bảo sự thành công. Đặc điểm và vai trò của chiến lƣợc kinh doanh 1. Đặc điểm Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về phạm trù chiến lƣợc, tuy nhiên những đặc điểm cơ bản của chiến lƣợc kinh doanh là tƣơng đối giống nhau, đó là: -Tính định hƣớng dài hạn: Chiến lƣợc kinh doanhđịnh ra những phƣơng hƣớng phát triển của DN trong dài hạn.
Do nó chỉ mang tính định hƣớng nên trong thực tiễn hoạt động SXKD cần xem xét tính hợp lý của nó và điều chỉnh cho phù hợp với môi trƣờng điều kiện kinh doanh. -Tính mục tiêu: Chiến lƣợc kinh doanh xác định rõ mục tiêu cơ bản, những phƣơng hƣớng kinh doanh của DN trong từng thời kỳ. - Tính phù hợp: Chiến lƣợc kinh doanh phải đảm bảo huy động tối đa các nguồn lực và sự kết hợp tốt giữa chúng. Đồng thời chiến lƣợc kinh doanh cũng phải đƣợc xây dựng đểphù hợp với những biến đổi không ngừng của môi trƣờng kinh doanh.
- Tính liên tục: Chiến lƣợc kinh doanh phải đƣợc phản ánh trong suốt quá trình liên tục từ khâu xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá và điều chỉnh. - Tính cạnh tranh: Chiến lƣợc kinh doanh luôn mang tƣ tƣởng tiến công 1 z giành thắng lợi trong cạnh tranh. Không có cạnh tranh thì không cần chiến lƣợc kinh doanh. Chiến lƣợc kinh doanh đƣợc hình thành dựa trên lợi thế cạnh tranh và tận dụng các cơ hội kinh doanh.
- Tính tập trung: Để đảm bảo tính chuẩn xác trong dài hạn và bí mật trong cạnh tranh, các quá trình của các chiến lƣợc kinh doanh đều tập trung vào lãnh đạo cấp cao. Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lƣợckinh doanh có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của DN, thể hiện ở những khía cạnh sau: 1. Chiến lược kinh doanh giúp DN xác định rõ được mục tiêu, hướng đi trong tương lai của mình. Chiến lƣợc kinh doanh định hƣớng hoạt động trong dài hạn của DN.
Sự thiếu vắng chiến lược hoặc chiến lược không rõ ràng, không có luận cứ vững chắc sẽ làm cho hoạt động của DN mất phương hướng, chỉ thấy những vấn đề trước mắt mà không gắn được với dài hạn hoặc chỉ thấy được cục bộ mà không thấy được vai trò của cục bộ trong toàn bộ hoạt động của DN. Chiến lƣợc kinh doanh giúp DN nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và đe doạ của môi trƣờng kinh doanh luôn luôn biến đổi. Chiến lƣợc kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cƣờng vị thế của DN, góp phần đảm bảo cho DN phát triển liên tục và bền vững.Các công trình nghiên cứu cho thấy, các DN nào vận dụng quản trị chiến lược thì đạt được kết quả tốt hơn nhiều so với kết quả họ đạt được trước đó và các kết quả của các DN không vận dụng quản trị chiến lược. Chiến lƣợc kinh doanh tạo ra căn cứ vững chắc cho DN để đề ra cách quyết định phù hợp với sự biến động của thị trƣờng.
Đồng thời cũng tạo ra cơ sở cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tƣ phát triển, đào tạo nhân sự, mở rộng thị trƣờng.Thực tế, phần lớn các sai lầm trong đầu tƣ, công nghệ, thị trƣờng đều xuất phát từ chiến lƣợc không tốt hoặc có sự sai lệch trong xác định mục tiêu chiến lƣợc. Cácloại chiến lƣợc kinh doanh 1 z Theo Michael Porter (1987) có ba loại chiến lƣợc kinh doanh phổ quát: (1) chiến lƣợc dẫn đầu về chi phí thấp, (2) chiến lƣợc đặc trƣng hoá khác biệt (còn gọi là chiến lƣợc khác biệt hóa), (3) chiến lƣợc trọng tâm hóa (còn gọi là tập trung hóa), nhƣ sau: 1. Chiến lược dẫn đầu về chi phí thấp Là chiến lƣợc nhằm có đƣợc tổng chi phí thấp so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành thông qua một tập hợp các chính sách. Những công ty theo đuổi chiến lƣợc này đòi hỏi phải tích cực xây dựng những cơ sở sản xuất có quy mô hiệu quả, cắt giảm chi phí mạnh mẽ nhờ kinh nghiệm, kiểm soát chặt chi phí và tối thiểu hoá chi phí, các cấp quản lý cần chú ý kiểm soát chi phí để đạt đƣợc các mục tiêu này.
Chi phí thấp so với đối thủ là chủ đề xuyên suốt toàn bộ chiến lƣợc, mặc dù chất lƣợng dịch vụ và các yếu tố khác không thể bị xem nhẹ. Chi phí thấp bảo vệ DN trƣớc cả năm yếu tố cạnh tranh: tạo tƣ thế tiến công đối thủ về giá (làm cho đối thủ mất hết lợi nhuận do cạnh tranh), ngƣời mua chỉ có thể mặc cả giá xuống đến mức các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất có thể chịu đƣợc, tạo nên rào cản gia nhập nhờ quy mô và lợi thế chi phí, bảo vệ chống lại các nhà cung cấp hùng mạnh do DN có đủ khả năng linh hoạt để đối phó, chi phí thấp thƣờng tạo tƣ thế thuận lợi cho DNso với các DNcùng ngành trong việc chống chọi với các sản phẩm thay thế.