Luận văn nghiên cứu thiết kế chế tạo hệ thống đồng bộ các thiết bị phục vụ mô hình nuôi tôm thương phẩm thâm canh qui mô trang trại

Luận văn nghiên cứu thiết kế chế tạo hệ thống đồng bộ thiết bị phục vụ mô hình nuôi tôm thương phẩm thâm canh quy mô trang trại hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Sản

Chuyên ngành

Kỹ thuật nuôi trồng thủy sản

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật

2006

220
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Thiết kế hệ thống

Thiết kế hệ thống là nền tảng của nghiên cứu, tập trung vào việc tạo ra một hệ thống đồng bộ các thiết bị phục vụ mô hình nuôi tôm thâm canh. Hệ thống này bao gồm các thiết bị từ khâu chuẩn bị nước nuôi đến thu hoạch, đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả. Hệ thống nuôi tôm được thiết kế dựa trên các tiêu chuẩn ngành thủy sản, phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam. Các thiết bị được chế tạo trong nước với giá thành hợp lý, đáp ứng nhu cầu của người nuôi tôm.

1.1. Hệ thống đồng bộ thiết bị

Hệ thống đồng bộ thiết bị bao gồm các thiết bị như bơm nước, thiết bị sục khí, và hệ thống kiểm soát môi trường. Các thiết bị này được thiết kế để hoạt động liên hoàn, đảm bảo hiệu quả trong quá trình nuôi tôm. Hệ thống tự động hóa được tích hợp để giảm thiểu sự can thiệp thủ công, tăng độ chính xác và hiệu suất.

1.2. Công nghệ nuôi tôm

Công nghệ nuôi tôm được áp dụng trong nghiên cứu bao gồm các phương pháp hiện đại như nuôi nước chảy, giúp tạo môi trường sạch và linh hoạt. Công nghệ này giúp giảm thiểu bệnh tật và tăng năng suất nuôi tôm. Kỹ thuật nuôi tôm được cải tiến để phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán của người nuôi tôm tại Việt Nam.

II. Quy mô trang trại

Nghiên cứu tập trung vào quy mô trang trại, với mục tiêu thiết kế hệ thống phù hợp cho các trang trại nuôi tôm thâm canh. Các mô hình nuôi tôm được thiết kế với các mật độ khác nhau, từ thấp đến cao, đảm bảo hiệu quả kinh tế và bền vững môi trường. Quản lý nuôi tôm được cải thiện thông qua việc sử dụng các thiết bị đồng bộ và công nghệ hiện đại.

2.1. Mô hình nuôi tôm thâm canh

Mô hình nuôi tôm thâm canh được thiết kế với ba mức mật độ: thấp, trung bình và cao. Mỗi mô hình đều đạt được năng suất cao, phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam. Hệ thống nuôi tôm được tối ưu hóa để đảm bảo hiệu quả kinh tế và bền vững môi trường.

2.2. Thiết bị nuôi tôm

Thiết bị nuôi tôm bao gồm các thiết bị như bơm nước, thiết bị sục khí, và hệ thống kiểm soát môi trường. Các thiết bị này được thiết kế để hoạt động đồng bộ, đảm bảo hiệu quả trong quá trình nuôi tôm. Hệ thống tự động hóa được tích hợp để giảm thiểu sự can thiệp thủ công, tăng độ chính xác và hiệu suất.

III. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã đạt được những kết quả nổi bật, bao gồm việc thiết kế và chế tạo thành công hệ thống đồng bộ các thiết bị phục vụ nuôi tôm thâm canh. Hệ thống nuôi tôm đã được áp dụng thực tế tại các trang trại, mang lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường. Công nghệ nuôi tôm được cải tiến đã giúp tăng năng suất và giảm thiểu rủi ro trong quá trình nuôi tôm.

3.1. Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế của hệ thống được thể hiện qua việc tăng năng suất nuôi tôm và giảm chi phí đầu tư. Các thiết bị được chế tạo trong nước với giá thành hợp lý, giúp người nuôi tôm tiết kiệm chi phí. Quản lý nuôi tôm được cải thiện thông qua việc sử dụng các thiết bị đồng bộ và công nghệ hiện đại.

3.2. Bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là một trong những mục tiêu quan trọng của nghiên cứu. Hệ thống nuôi tôm được thiết kế để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo sự bền vững trong nuôi trồng thủy sản. Kỹ thuật nuôi tôm được cải tiến để phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán của người nuôi tôm tại Việt Nam.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Thực hiện chiến lược Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nhằm chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế cơ bản thủ công lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại, trong những năm qua ở ngành Nuôi trồng thủy sản nói chung và ngành nuôi tôm th- ương phẩm nói riêng đã có nhiều chuyển biến toàn diện và tích cực. Từ thực trạng chỉ áp dụng mô hình nuôi tôm quảng canh lạc hậu, đến nay đã cơ bản chuyển qua mô hình quảng canh cải tiến và thâm canh. Trong những mô hình nuôi tôm thâm canh đã bước đầu sử dụng thiết bị kỹ thuật để thực thi công nghệ nuôi và điều chỉnh môi trường ao nuôi. Tuy nhiên do không được đầu tư nghiên cứu đúng mức nên các thiết bị kỹ thuật đang được sử dụng hiện nay cơ bản là nhập ngoại có giá thành cao nhưng thiếu đồng bộ và ít phù hợp với điều kiện sử dụng Việt Nam.

Nhằm tạo lập được cơ sở khoa học tin cậy và từ đó thiết kế - chế tạo hoàn chỉnh các thiết bị kỹ thuật đồng bộ phù hợp phục vụ cho nghề nuôi tôm thương phẩm thâm canh qui mô trang trại ở Việt Nam, đề tài: "NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ, CHẾ TẠO HỆ THỐNG ĐỒNG BỘ THIẾT BỊ PHỤC VỤ MÔ HÌNH NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM THÂM CANH QUI MÔ TRANG TRẠI" - đã được đề xuất và đđược Bộ Khoa học công nghệ chuẩn y với mã số: KC. Sau hơn hai năm khắc phục mọi khó khăn để kiên trì thực hiện, đến nay các nội dung cơ bản của đề tài đã hoàn thành. Kết quả nghiên cứu của đề tài được thể hiện trong 12 báo cáo khoa học hoàn chỉnh và 03 chương trình máy tính (phần mềm) tính toán kỹ thuật phục vụ hoạt động cho hệ thống thiết bị đồng bộ: Do đề tài có tính thực tiễn cao và phức tạp, nhưng thời gian nghiên cứu lại quá ngắn, khả năng trang bị kỹ thuật và trình độ nghiên cứu viên còn hạn chế nên các báo cáo sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong sự góp ý các đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu của đề tài được hoàn thiện hơn.

Chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên rất trân trọng tiếp thu, xin chân thành cám ơn mọi ý kiến đóng góp và sẽ bổ sung để báo cáo được hoàn chỉnh hơn. Nha Trang 15 tháng 6 năm 2006 Chủ nhiệm Đề tài PGS. TS Phạm Hùng Thắng 10 Phần 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM THÂM CANH QUI MÔ TRANG TRẠI. Tổng quan về công nghệ và thiết bị nuôi tôm thương phẩm qui mô trang trại ở Thái lan.

Thực hiện đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt, Từ 20 - 29/3/2004, chủ nhiệm đề tài, sau khi tham vấn với các cơ quan phối hợp, đã thực hiện tham quan - khảo sát tình hình nuôi tôm thương phẩm thâm canh ở Thái Lan (quốc gia xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới hiện nay). Đoàn tham quan - khảo sát gồm : 1.TS Phạm Hùng Thắng. CNĐT - Trưởng đoàn. Trình Văn Liễn, GĐ trung tâm NC nuôi trồng thuỷ sản - Đoàn viên.

Trang Sĩ Trung, CBGD khoa nuôi trồng thuỷ sản - Đoàn viên. Theo hợp đồng với Khoa nuôi trồng thủy sản - Học viện Công nghệ châu Á (AIT), Đoàn đã thực hiệncác nội dung sau : - Được GS. Lin (Trưởng khoa) giới thiệu chung về mô hình, công nghệ và thiết bị nuôi tôm hiện tại ở Thái Lan (01 ngày), - Tham quan các cơ sở nuôi tôm thương phẩm thâm canh ở 06 tỉnh nuôi tôm trọng điểm của Thái Lan (Bangkoc, Chachoengsoa, Chantaburi, Pattaya, samutsakomvà Samutsongkarm ), Trong đó có cơ sở nuôi tôm thâm canh của dự án nhà Vua Thái ở Vịnh KUNGKRABEN. - Tham quan các cơ sở dịch vụ thủy sản ( chợ đầu mối tôm, cơ sở nghiên cứu & sản xuất thức ăn và hóa chất phục vụ nuôi tôm ).

Các hình ảnh cơ bản của chuyến tham quan - khảo sát được ghi lại trên đĩa CD kèm theo. Kết quả tham quan khảo sát cho thấy : - Sau thời kỳ phát triển quá mạnh về nuôi tôm công nghiệp, do không được đầu tư trang bị kỹ thuật đúng mức nên hậu quả dịch bệnh và ô nhiễm môi trường ao nuôi tôm ở Thái Lan rất trầm trọng, gây tổn thất rất lớn cho người nuôi tôm (1996 - 1997). Trước khó khăn này, Chính phủ Thái Lan đang chủ trương giảm diện tích và mật độ nuôi tôm để triển khai các biện pháp khôi phục môi trường. - Trước sự thất bại đã được báo trước của vụ kiện tôm ở Mỹ, Thái Lan đang chuyển dần các diện tích nuôi tôm qua nuôi các đối tượng khác hiệu quả hơn như ốc hương, cá chẽm, cá mú.

11 - Mô hình nuôi tôm thâm canh hiện tại cơ bản là nuôi mật độ thấp (dưới 25 con /m2 ) và chỉ sử dụng chế phẩm sinh học. Diện tích nuôi dao động từ 0,2 -1,0 ha. - Về thiết bị kỹ thuật phục vụ hiện có chỉ gồm: * Bơm cấp nước nuôi và xả nước thải kiểu bơm hướng trục (kiểu tuhuýt của Việt Nam). * Thiết bị sục khí - đảo nước dùng thông dụng 02 dạng : quạt nước và máy sục Venturi.

* Các thiết bị kỹ thuật đo môi trường dùng phổ biến 02 loại : Bộ" KIT" hoá học (do Thái lan sản xuất) và các bộ đo kỹ thuật số (do Đài Loan và Mỹ sản xuất). Bộ KIT được trang bị đến từng trại nuôi, còn bộ đo kỹ thuật số trang bị cho các HỘI nuôi tôm địa phương. * Các thiết bị kỹ thuật khác:T/B cho tôm ăn cơ khí và tự động, T/B kiểm soát và điều chỉnh môi trường, thiết bị thu tôm sống, T/B tách chất thải đặc, T/B xử lý nước thải tuần hoàn. không được sử dụng.

Đánh giá chung: - Mô hình nuôi tôm công nghiệp ở Thái Lan hiện nay cơ bản là mật độ thấp và thân thiện với môi trường. - Các thiết bị kỹ thuật phục vụ ở trình độ trung bình tương tự như thiết bị hiện có ở Việt nam hiện nay. Tổng quan về công nghệ và thiết bị nuôi tôm thương phẩm qui mô trang trại ở Đài Loan. Từ ngày 20 - 27/5/2004, phối hợp với công ty Chuan kuan (Đài Loan), Đoàn tham quan - khảo sát gồm : 1.TS Phạm Hùng Thắng.

CNĐT - Trưởng đoàn. Trình Văn Liễn, GĐ trung tâm NC nuôi trồng thuỷ sản - Đoàn viên. Ngô Xuân Hiến, CBGD khoa NTTS - Đoàn viên. Theo hợp đồng với công ty nuôi trồng thủy sản Chuan kuan -Tp.

Kao Shùng, Đài Loan ,Đòan đã thực hiện các nội dung sau : - Tham quan - khảo sát hệ thống nuôi tôm thâm canh của miền Trung và Nam đảo Đài Loan. - Thăm quan các viện NC nuôi trồng và chế biến thuỷ sản tại Tp. Kết quả tham quan khảo sát cho thấy : - Sau thời kỳ phát triển quá mạnh về nuôi tôm công nghiệp, hậu quả dịch bệnh và ô nhiễm môi trường ao nuôi tôm ở Đài Loan rất trầm trọng, gây tổn thất rất lớn cho 12 người nuôi tôm (1988). Trước khó khăn này, các công ty nuôi Đài Loan đang chủ trương chuyển dần các diện tích nuôi tôm qua nuôi các đối tượng khác hiệu quả hơn như ốc hương, cá chẽm, cá mú.

theo hướng dịch vụ giống và thức ăn. - Mô hình nuôi tôm thâm canh hiện tại cơ bản là nuôi mật độ trung bình (dưới 40 con /m2 ). Diện tích nuôi dao động từ 0,2 -1,0 ha. Do rất lạm dụng hoá chất và ít đầu tư sử lý chất thải nên các vùng nuôi ở Đài Loan rất ô nhiễm ( hơn cả ở Việt Nam) - Về thiết bị kỹ thuật phục vụ hiện có chỉ gồm: * Bơm cấp nước nuôi và xả nước thải kiểu bơm ly tâm (do đài Loan chỉ nuôi cao triều).

* Thiết bị sục khí - đảo nước dùng thông dụng 02 dạng : quạt nước và thổi khí đáy. * Các thiết bị kỹ thuật đo môi trường dùng phổ biến loại đo kỹ thuật số (do Đài Loan và Mỹ sản xuất). * Các thiết bị kỹ thuật khác:T/B cho tôm ăn cơ khí và tự động, T/B kiểm soát và điều chỉnh môi trường, thiết bị thu tôm sống, T/B tách chất thải đặc, T/B sử lý nước thải tuần hoàn. không được sử dụng.

Máy cho tôm ăn tự động F1-3 chỉ có theo quảng cáo, Thực tế máy này chỉ dùng cho cá ăn và không lắp bộ tự động cho ăn theo thời gian. Đánh giá chung: - Mô hình nuôi tôm công nghiệp ở Đài Loan hiện nay cơ bản là mật độ trung bình và không thân thiện với môi trường. - Các thiết bị kỹ thuật phục vụ ở trình độ trung bình tương tự như thiết bị hiện có ở Việt nam hiện nay. Tổng quan về công nghệ và thiết bị nuôi tôm thương phẩm qui mô trang trại ở Việt Nam.

Đoàn công tác gồm 06 cán bộ của ĐHTS và TTNC máy thuỷ khí (Viện cơ điện nông nghiệp) đã thực hiện 02 đợt khảo sát về nuôi tôm thương phẩm thâm canh ở các tỉnh nuôi tôm ven biển. Bằng phương tiện ÔTô. - Đợt I : Đoàn đã khảo sát nuôi tôm ở tỉnh Quảng Ninh (Hạ Long và Quảng Yên), Hải Phòng ( Kiến Thuỵ, Đồ Sơn và Tiên Lãng), Thái Bình (Thái Thuỵ và Tiền Hải), Nam Định (Quất Lâm ), Ninh Bình (Kim Sơn), Thanh Hoá (Tĩnh Gia), Hà Tĩnh (Bắc đèo ngang), Quảng Bình (Quán hàu, Vĩnh Linh, Ngư Thuỷ). Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên (Sông Cầu và Tuy An), Khánh Hoà (Ninh Hoà , Nha Trang và Cam Ranh), Ninh Thuận (Ninh Phước và Cà Ná).

Kỹ thuật nuôi cơ bản theo tiêu chuẩn ngành Thuỷ sản, nhưng trình độ chuyên môn được tập huấn rất hạn chế. - Trang bị kỹ thuật : *Ở miền Bắc chỉ dùng quạt đảo nước (loại trục ngắn và trục dài do Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam sản xuất). Ở Miền Trung và miền nam có dùng thêm máy thổi khí của Thái lan, Dài Loan và Mỹ sản xuất và thiết bị thu tôm kiểu xung điện, * Các thiết bị kỹ thuật khác:T/B cho tôm ăn cơ khí và tự động, T/B kiểm soát và điều chỉnh môi trường, T/B tách chất thải đặc, T/B xử lý nước thải tuần hoàn. không được sử dụng.

Mô tả các thiết bị kỹ thuật phục vụ nuôi tôm hiện hành 1. Máy thổi khí venturi. Đây là máy do Đài Loan sản xuất, loại máy này đảo nước bằng chân vịt đặt trong ống bao dẫn khí và được nhúng sâu vào trong nước. Chân vịt được dẫn động bằng động cơ điện.

Toàn bộ hệ thống được đặt trên khung nổi. Khi động cơ điện hoạt động làm quay chân vịt, nhờ cấu tạo xoắn của cánh chân vịt và ống bao dẫn khí tạo ra dòng chảy và khuếch tán ôxy vào trong nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ