MỞ ĐẦU Ngành rượu bia là một trong những ngành phát triển mạnh trong những năm gần đây, ngoài lợi nhuận thu được rất lớn, hàng năm ngành này đóng góp cho ngân sách Nhà nước trên 3000 tỷ đồng, giải quyết công ăn việc làm cho trên 50.000 lao động có việc làm trực tiếp tại các cơ sở sản xuất. Sự phát triển của ngành đã kéo theo sự phát triển của các ngành có liên quan như nông nghiệp, công nghiệp cơ khí, bao bì, điện lạnh, thương mại dịch vụ,. Vì vậy, các cơ quan chức năng của nhà nước và tư nhân rất quan tam đến việc phát triển ngành này. ; Theo quy hoạch tổng thể phát triển ngành Rượu Bia Việt Nam đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 28/2002/QĐ- TTpg ngày 6/2/2002, sản lượng các loại sản phẩm dự kiến trong năm 2005: rượu cén công nghiệp là 120 triệu lít, dân tự nấu là 130 triệu lít; năm 2010: rượu cồn công nghiệp là 220 triệu lít, dân tự nấu là 80 triệu lít.
Theo căn cứ đường lối và chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2001-2010 của Đảng và Nhà nước, việc mở rộng và phát triển mạnh các sản phẩm đã qua chế biến, nhất là vấn để giải quyết đầu ra cho nông sản được chú trọng đẩy mạnh. Vì vậy, việc đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất cồn dùng nguyên liệu tỉnh bột (ngô, khoai, sắn,.) và mật rỉ (sản phẩm phụ của đường) là phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội, góp phần phủ xanh đất trống, đổi trọc, nâng cao hiệu quả sử dụng đất hoang hoá, cần cỗi và tăng thu nhập, ổn định cuộc sống cho đan - đặc biệt là những vùng kinh tế khó khăn, dan hay du canh du cư. Đối với ngành công nghiệp sản xuất rượu cồn, cả nước có khoảng 328 cơ sở sản xuất rượu với tổng công suất khoảng 48 triệu lít/năm. Nhìn chung năng lực sản xuất còn nhỏ, số lượng các cơ sở sản xuất có qui mô lớn còn ít, chủng loại mẫu mã sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng, chất lượng sản phẩm không cao do công nghệ sản xuất còn nhiều bất hợp lý và lạc hậu.
Hầu hết các cơ sở có thiết bị chế tạo trong nước đã cũ, chắp vá, cần thiết phải cải tạo dé nang caö chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và bảo vệ môi trường. “ Nấm bắt được chủ chương của chính phủ, hiện nay đã có nhiều địa ` phương lập dự án trình lên Bộ Nông nghiệp và Phát /riển Nông thôn xin phép được đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất cồn. Và trong tương lai sẽ có nhiều nhà máy cồn được xây đựng. Hiện nay, nếu nhập dây chuyên thiết bị của nước ngoài thì giá trị đầu tư rất lớn và thời gian hoàn vốn lâu và nếu sử dụng dây chuyền thiết bị cũ thì sản phẩm chỉ có thể tiêu thụ trong nước và rất khó xuất khẩu do chất lượng không cao.
Vì vậy, đầu tư “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và chuyển giao công nghệ dây chuyên sản xuất côn hiện đại ứng dụng cho các nhà máy Rượu-Côn Việt nam ' là việc làm rất cần thiết. NHU CẦU VÀ HIỆN TRANG SAN XUAT CON 11. NHỤ CẦU VỀ CỔN TRONG CÔNG NGHIỆP VẢ DÂN DỤNG 1. Thế giới Sau khi đạt được sản lượng sản xuất cao nhất vào năm 1997, sản xuất cồn thế giới bị suy giảm nhiều trong 2 năm 1998 - 1999, Trong năm 2000, sản xuất cồn thế giới đã có phần hồi phục với tổng sản lượng là 31,9: tỷ lít so với 3l,5 tỷ lít của năm 1999, bảng 1.
Brazil đến nay vẫn là nước có sản lượng côn sản xuất hàng năm cao nhất; trên 13 tỷ lít Do vậy khi xảy ra khủng hoảng về sản xuất cồn tai Brazil, thị trường sản xuất và tiêu thụ cồn thế giới bị tác _ động mạnh. Tính từ năm 1997 trở lại đây thì sản lượng côn của Brazil bị giảm mạnh, gần 20%. Sản lượng cồn thế giới giai đoạn 1995 — 2000 (nguồn F.O Lichts) Khu vực 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Các nước - | 21 oos | 20,608 | 21.049 trong EU | Chau Au 46.475 Dai Duong Châu phi | 6.083 Hình 1: Sản lượng cồn thế giới giai đoạn 1995 — 2000 Tình hình xuất nhập khẩu cồn trên thế giới 1998 — 1999, bảng 2. Tình hình xuất nhập khẩu côn của một số nước trên thế giới Năm 1998 Năm 1998 Ghi Quốc gia Nhập Xuất Nhập Xuất chú khẩu khẩu khẩu khẩu Châu âu 218.7 Tây Ban Nha - - 35.30 Qua bảng 2 ta thấy thị trường Châu Mỹ và Châu ÂU có thể được cân bằng số lượng giữa xuất-nhập trong từng nội bộ khu vực, riêng thị trường Châu Á có mức cầu cao hơn mức cung và gia tăng liên tục hàng năm.
Đây là một lợi thế cho các nhà sản xuất cồn trong khu vực, nhất là khi các hiệp định thương mại khu vực được triển khai trong thời gian tới. Trong nước Cồn là một loại sản phẩm được sử dụng nhiều trong các ngành thực phẩm, mỹ phẩm, y tế và các ngành công nghiệp khác. Trong ngành thực phẩm, côn được dùng để chế biến các loại đồ uống và nước giải khát có nồng độ như: rượu, THƯỚC giải khát có gas độ cồn nhẹ,. Bảng 3 trình bày số liệu thống kê lượng cồn tiêu thụ trong các lĩnh vực chủ yếu sau: Bảng 3.
TỈ trọng cồn trong các ngành sản suất STT Lĩnh vực : Ti trong [%] 1. Sản xuất thực phẩm công nghiệp 83 2 Sản xuất nước hoa 6 3 Sản xuất đung môi 5 4 Sản xuất dược phẩm. 4 5 Sản xuất khác 2 Thực tế, trong thời gian qua có nhiều công ty của Nhật (Tanaka, Mitsui, Nissho Iwai, Meiwa, Itochu), Ha Lan (SVG), Thuy Si (Sofecia, Louis Dreyfus),. tiếp cận thị trường cồn Việt Nam.
Một số công ty nước ngoài đã có đầu tư hoạt động trong các khu chế xuất của Việt Nam, tham gia sản xuất các ngành hàng có sử dụng cồn làm nguyên liệu nên khả năng xuất khẩu côn vào các khu vực này ngày càng được mở rộng. Ngoài ra, hiện nay lượng rượu, bia sử dụng ngày càng tăng và do đó nhủ cầu về cồn cũng tăng. Không những thế, côn còn có những tính chất nhiệt vật lý rất tốt để làm chất tải lạnh thay cho nước muối (gây ăn mồ thiết bị) và Glycol (vì giá thành Glycol rất cao).nay các nhà máy công nghiệp sử dụng chất tải lạnh có xu hướng cải tạo lại hệ thống sang sử dụng chất tải lạnh là hỗn hợp cồn và glycol nên chắc chắn lượng cồn dùng trong lĩnh vực này sẽ tăng. Hiện nay một số nước đã sản xuất cồn dé thay thế một phần xăng, dầu dùng cho phương tiện giao thông, máy động lực.
Như 6 Mexico, Brazil, Thai- lan, .v đã dùng cồn để chạy ô-tô, xe máy mà không phải thay thế, cải tảo lớn động cơ dừng xăng dầu. Nếu có công nghệ và thiết bị hòa trộn thích hợp hoặc trong bình đựng xăng dầu của phương tiện có lấp bổ sung cơ cấu hòa trộn xăng và cồn thì tỷ lệ sử dụng cồn thay thế xăng, dầu có thể ở mức 20% hoặc cao hơn. Việt Nam có đủ điều kiện để tìm nguyên liệu tái sinh, trước mắt là cồn công nghiệp để thay thế cho một phần xăng, dầu bởi lẽ Việt Nam khá sẵn nguyên liệu chế biến cồn và giá so với xăng dầu (đã quy ra nhiệt trị tương đương) chỉ bằng 2/3, lại giảm bớt ô nhiễm môi trường, giảm phí nhập khẩu xăng dầu, giúp nhà nước tiết kiệm hàng trăm triệu USD/năm. Và để tài nghiên cứu sử dụng xăng pha cồn dùng trong động cơ, máy động lực đang được nhiều cơ quan phối hợp thực hiện nên trong tương lai gần, sẽ rất có thể có động co xăng pha cồn được sử dụng rộng rãi.
Để tìm hiểu thêm về lượng cồn tiêu thụ trong nước, ta xem xét số liệu thống kê sản lượng cồn qua các năm từ 1995 đến 2000, bảng 4. Bảng 4: Sản lượng cồn của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2000 lon Năm 1996 | Năm 1997 | Năm 1998 | Nam 1999 | Năm 2000 21.950 Từ biểu đồ cho thấy nhu cầu tiêu thụ cồn hàng năm tăng rất nhanh, khoảng 17%/năm, và do các nhà máy cồn đang hoạt động gần hết công suất nên cần thiết phải đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất cền mới nhằm đáp + ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước. Năm 2000, sản lượng cồn sản xuất ngoài quốc doanh chiếm đến gần 50% lượng cồn sản xuất cả nước. Với công nghệ chế biến đơn giản và thiết bị thô sơ, chất lượng sản phẩm cồn sản xuất từ khu vực tư nhân không cao, không đáp ứng được cho yêu cầu sản xuất rượu cao cấp trong nước, mà theo xu hướng phát triển hiện nay, yêu cầu về rượu có chất lượng cao đang phát triển mạnh.
"Yêu cầu chất lượng của cồn dùng trong thực phẩm rất cao, đặc biệt là khi suất khẩu. Do đó, dé cB thé cạnh tranh trên thị trường thì cân phải xây - dựng các dây chuyên công nghệ hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đồng thời phải đưa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm tiết kiệm năng lượng để hạ giá thành sản phẩm. NGUỒN NGUYÊN LIỆU DÙNG TRONG SẲN XUẤT CỔN Hiện nay, để sản xuất cồn người ta sử dụng hai nguồn nguyên liệu chính là khí acetylen hoặc từ những chất có hàm lượng đường cao: -_ Sản xuất rượu từ khí acetylen có thể thực hiện bằng hai cách: cách thứ nhất là thuỷ phân acetylen bằng axit sunphuaric; cách thứ hai là thuỷ phân acetylen bằng nước. - Sản xuất cồn từ những chất có hàm lượng đường cao bằng cách lên men nhờ vi sinh vật.
Để sản xuất cồn bằng lên men người ta sử dụng enzym của các vi sinh vat để chuyển hoá đường thành cồn. ; Do nước ta có thuận lợi về nguồn nguyên liệu nên không dùng khí acetylen mà dùng nguyên liệu có hàm lượng đường cao để sản xuất rượu etylic. ` Nguyên liệu có hàm lượng đường cao dùng trong phương pháp lên men sử dụng enzim-của các vi sinh vật là: Ngô, khoai, sắn, ngũ cốc, mật rỉ, chất thải của sữa từ các nhà máy sản xuất casein (đạm sữa), rơm rạ, cành lá được tỉa bỏ của cây,. Ví dụ: Công ty sữa Anchor ở New-Zealand hiện đang sản xuất cồn bằng cách chế biến các chất thải của sữa từ những nhà máy sản xuất casein (đạm sữa), họ đã sản xuất được 12 triệu lít cồn sau khi chế biến khoảng 4 triệu lít sữa mỗi ngày (năm 1997), Lần đầu tiên trên thế giới, một nhà máy sản xuất cồn từ các phế thải hữu cơ đã được xây dựng ở Mỹ.