Nghiên Cứu Và Phát Triển Hoạt Động Tư Vấn Môi Giới Chuyển Giao Công Nghệ Ở Việt Nam

Luận văn nghiên cứu phát triển hoạt động tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ

Chuyên ngành

Chuyển giao công nghệ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu

2009

56
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Lý luận và kinh nghiệm thế giới về hoạt động tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ

Phần này tập trung vào việc thống nhất khái niệm và giới hạn nghiên cứu về tư vấn công nghệmôi giới công nghệ. Theo Luật Chuyển giao công nghệ, tư vấn chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ các bên trong việc lựa chọn công nghệ, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ. Môi giới chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ bên có công nghệ và bên cần công nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ. Các hoạt động này là một phần của dịch vụ chuyển giao công nghệ, bao gồm đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ, và xúc tiến chuyển giao công nghệ.

1.1. Khái niệm và giới hạn nghiên cứu

Khái niệm chuyển giao công nghệ được định nghĩa là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao sang bên nhận công nghệ. Các hoạt động tư vấn, môi giới CGCN hỗ trợ vào loại thứ nhất, tức là thông qua giao dịch thương mại. Các phương thức chuyển giao công nghệ bao gồm mua trực tiếp, đầu tư vốn, liên doanh, cấp lixăng, và hợp tác nghiên cứu. Các hoạt động này phù hợp với các đối tượng khác nhau như doanh nghiệp, tổ chức NC&PT, và nhà nước.

1.2. Ý nghĩa và vị trí của hoạt động tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ

Hoạt động tư vấn, môi giới CGCN có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các khó khăn trong chuyển giao công nghệ. Các khó khăn này bao gồm sự phức tạp trong việc lựa chọn phương thức chuyển giao, đánh giá công nghệ, và đàm phán hợp đồng. Các tổ chức tư vấn, môi giới đóng vai trò trung gian, giúp nâng cao tính chuyên nghiệp và vị thế của doanh nghiệp trong đàm phán mua bán công nghệ. Ngoài ra, họ cũng giúp thống nhất lợi ích giữa các bên tham gia chuyển giao công nghệ, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thị trường.

II. Phát triển hoạt động tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

Phần này tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động tư vấn, môi giới CGCN tại Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, nhưng nhìn chung, hoạt động tư vấn, môi giới CGCN vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện. Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào các khía cạnh cụ thể như vai trò tư vấn pháp lý, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp, hoặc các hội thảo về đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập từ thực tiễn chưa được giải quyết thỏa đáng.

2.1. Thực trạng hoạt động tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ tại Việt Nam

Thực trạng hoạt động tư vấn, môi giới CGCN tại Việt Nam cho thấy nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin công nghệ và năng lực công nghệ cần thiết. Các tổ chức tư vấn, môi giới chưa phát huy được hết vai trò của mình trong việc hỗ trợ doanh nghiệp. Ngoài ra, các chính sách thúc đẩy phát triển các tổ chức tư vấn, môi giới CGCN còn thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

2.2. Giải pháp phát triển hoạt động tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ

Để phát triển hoạt động tư vấn, môi giới CGCN tại Việt Nam, cần có các giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần xây dựng các chính sách thúc đẩy phát triển các tổ chức tư vấn, môi giới CGCN, bao gồm cả việc hỗ trợ tài chính và đào tạo nguồn nhân lực. Thứ hai, cần tăng cường hợp tác giữa các tổ chức tư vấn, môi giới với các doanh nghiệp và tổ chức NC&PT. Cuối cùng, cần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về vai trò và lợi ích của hoạt động tư vấn, môi giới CGCN trong việc nâng cao năng lực công nghệ và cạnh tranh trên thị trường.

01/03/2025
Luận văn nghiên cứu phát triển hoạt động tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ W”X BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, MÔI GIỚI CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM Chủ nhiệm Đề tài: TS. HOÀNG XUÂN LONG Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN 7472 31/7/2009 Hà Nội, 2009 LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua, hoạt động tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ ở nước ta đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập. Đồng thời, cũng có những khía cạnh khác nhau được cách tiếp cận về chủ đề nghiên cứu này. Có những công trình đề cập tới tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ như một khía cạnh có liên quan khi bàn về các chủ đề khác (về thị trường KH&CN, chuyển giao công nghệ, gắn kết nghiên cứu với sản xuất,.

Có những nghiên cứu đi vào phân tích một loại hình tổ chức dịch vụ môi giới chuyển giao công nghệ nhất định (điển hình là "Vai trò tư vấn pháp lý trong hoạt động chuyển giao công nghệ", Báo cáo tham luận tại Hội thảo "Đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, do Bộ KH&CN tổ chức tại Hà Nội, 28-12-2004). Có những nghiên cứu tìm hiểu hoạt động dịch vụ môi giới chuyển giao công nghệ trong một lĩnh vực hoạt động kinh tế (điển hình là "Chuyển giao tiến bộ KH&CN trong sản xuất nông nghiệp: Hiện trạng và giải pháp", Tạp chí Hoạt động Khoa học - số 11/2004). Có những nghiên cứu phân tích tình hình đang diễn ra và chưa có điều kiện đi sâu tìm kiếm các giải pháp khắc phục những tồn tại hiện nay (điển hình các bài tham luận tại Hội thảo: "Chuyển giao cộng nghệ phát triển nông thôn miền núi phía Bắc Việt Nam" do Chương trình Nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan tổ chức tại Tp. Thái Nguyên, ngày29 - 30/8/2003).

Những công trình nghiên cứu đã có là những đóng góp quan trọng vào nghiên cứu tổ chức tư vấn, môi giới, xúc tiến mua bán, chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, nhìn chung, đây vẫn là vấn đề chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện. Đặc biệt hiện vẫn đang có nhiều bất cập từ thực tiễn đặt ra chưa được giải quyết thoả đáng. Như vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu về tổ chức tư vấn, môi giới, xúc tiến mua bán, chuyển giao công nghệ ở nước ta.

Nghiên cứu phát triển các tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ ở Việt Nam là công trình nghiên cứu thuộc khuôn khổ Đề tài cấp cơ sở năm 2008 do Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN chỉ trì. Mục tiêu của Đề tài là xây dựng các căn cứ lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách thúc đẩy phát triển các tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ ở nước ta. Ngoài các phương pháp khảo cứu các tài liệu từ nhiều nguồn, phân tích lôgic, nghiên cứu so sánh,. Đề tài đã chú ý đến những cách tiếp cận sau: dựa trên quan điểm thực tế để nắm bắt các vấn đề đặt ra và vận dụng lý luận, kinh nghiệm của thế giới và của đổi mới trong nước thời gian qua để giải quyết các vấn đề đặt ra; tiếp cận hệ thống và liên ngành để phân tích các vấn đề liên quan tới các tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ ở nước ta.

1 Phù hợp với mục tiêu và phương pháp nghiên cứu trên, Đề tài được kết cấu làm các phần chính: Phần 1:Lý luận và kinh nghiệm thế giới về hoạt động tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ. Phần 2: Phát triển hoạt động tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ ở nước ta. Mặc dù có nhiều cố gắng, chắc chắn công trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm tác giả xin hoan nghênh và trân trọng mọi ý kiến góp ý, bổ sung đối với sản phẩm của mình.

Hà Nội, Tháng 12 năm 2008 Nhóm thực hiện đề tài 2 PHẦN I: LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, MÔI GIỚI CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ I.1 THỐNG NHẤT KHÁI NIỆM VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU Theo Luật Chuyển giao công nghệ được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 10, Khoá XI (Từ ngày 17 tháng 10 đến ngày 29 tháng 11 năm 2006), tư vấn chuyển giao công nghệ là: "hoạt động hỗ trợ các bên trong việc lựa chọn công nghệ, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ" (Điều 3), môi giới chuyển giao công nghệ là "hoạt động hỗ trợ bên có công nghệ, bên cần công nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ ) (Điều 3). Tư vấn chuyển giao công nghệ và môi giới chuyển giao công nghệ (gọi tắt là tư vấn, môi giới CGCN) là một phần của dịch vụ chuyển giao công nghệ. Với ý nghĩa được quy định như trong Điều 3 và Điều 28 của Luật Chuyển giao công nghệ, dịch vụ chuyển giao công nghệ được bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, ngoài tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ được còn có đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ, xúc tiến chuyển giao công nghệ được. Có những cách khác nhau để thu nhận công nghệ: thông qua giao dịch thương mại (bao gồm: mua trực tiếp, đầu tư vốn, liên doanh, cấp lixăng, đặc quyền kinh tiêu, mua thiết bị, hợp đồng phụ, hợp tác nghiên cứu và triển khai hoặc thoả thuận hợp tác sản xuất); thông qua các biện pháp phi chính thức (bao gồm: nhập sản phẩm, trao đổi cán bộ KH&CN, hội nghị khoa học, triển lãm KH&CN, đào tạo, tham quan thương mại, tư liệu được công bố (tạp chí, sách báo, .), các chương trình hỗ trợ của chính phủ, gián điệp công nghiệp)1.

Tư vấn, môi giới CGCN sẽ hỗ trợ vào loại thứ nhất. Điều này cũng phù hợp với khái niệm chuyển giao công nghệ được được nêu trong Luật Chuyển giao công nghệ được là: "chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ được sang bên nhận công nghệ" (Điều 3). Trên thực tế, có các hoạt động tư vấn, môi giới CGCN phù hợp với các đối tượng khác nhau là doanh nghiệp, tổ chức NC&PT và nhà nước2. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của Đề tài này, chúng ta sẽ tạm thời tập trung vào đối tượng doanh nghiệp và chưa nói nhiều đến hoạt động tư vấn, môi giới CGCN phục với tổ chức NC&PT và nhà nước.

1 Trung tâm Thông tin Tư liệu KH&CN quốc gia: Tổng luận Khoa học - Kỹ thuật - Kinh tế, số 3/1999, trang 30. 2 Như sẽ có dịp trình bày sau này, không chỉ doanh nghiệp và tổ chức NC&PT, mà cả nhà nước cũng có nhu cầu đựơc tư vấn công nghệ nói chung và tư vấn CGCN nói riêng.2 Ý NGHĨA VÀ VỊ TRÍ CỦA HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, MÔI GIỚI CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Việc tham gia vào chuyển giao công nghệ thường gặp nhiều khó khăn. Đó chính là lý do cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài của các tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ. Trước hết và là điều dễ nhận thấy nhất là khó khăn của doanh nghiệp trước sự phức tạp trong chuyển giao công nghệ.

Xoay quanh vấn đề công nghệ, các học giả đã từng đưa ra nhiều tranh luận. Chẳng hạn như các bàn thảo dai dẳng về những điều cơ bản như định nghĩa về công nghệ và chuyển giao công nghê (hàm chứa đằng sau là cách tiếp cận khác nhau), đánh giá đóng góp của công nghệ vào tăng trưởng kinh tế. Các doanh nghiệp có thể không quan tâm tới những gì mang tính học thuật hoặc tác động ở tầm vĩ mô, nhưng còn có cả những phức tạp khác liên quan trực tiếp đến hoạt động chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp. Có nhiều phương thức chuyển giao công nghệ khác nhau mà doanh nghiệp phải lựa chọn: mua thiết bị, hợp đồng chìa khoá trao tay, liên doanh, mua lixăng, liên kết NC&TK,.

Các phương thức này có liên quan tới lợi ích của các bên và đặc điểm công nghệ. Thông thường, người bán thích được tham gia cổ phần để có thể giám sát được nhiều hơn đối với người mua công nghệ, nhất là đối với những công nghệ quan trọng hoặc đang ở giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm. Trái lại, nếu công nghệ thuộc loại không quan trọng hoặc ở vào giai đoạn cuối của vòng thì người bán thích phương thức bán lixăng. Về phía người mua, quyết định lựa chọn phương thức chuyển giao nào phụ thuộc chủ yếu bởi năng lực công nghệ và các nguồn lực hiện có.

Nếu công nghệ định mua đòi hỏi nguồn lực quá cao, người mua thích phương thức liên doanh; nếu người mua có năng lực công nghệ cao, họ không thích việc tham gia cổ phần, trì khi có những lý do như để tiếp cận thị trường. Lựa chọn đúng phương thức chuyển giao công nghệ có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi, như Ramanathan đã chỉ ra3, nó giúp cho chuyển giao công nghệ có hiệu quả, năng lực công nghệ phát triển và lớn mạnh lên một cách vững chắc. Có những giai đoạn khác nhau của quá trình chuyển giao công nghệ mà doanh nghiệp phải trải qua. Trong giai đoạn nhận biết cơ hội doanh nghiệp cần nhận biết được các nhu cầu và lập luận chứng cho việc giao dịch.

Giai đoạn lựa chọn đối tác bao gồm việc tìm đối tác, đánh giá và chọn đối tác. Giai đoạn tiếp theo là hoàn thiện phương thức giao dịch với nội dung nhận dạng phương thức chuyển giao công nghệ khả thi và chọn 3 Ramanathan. "Application of Industria Technological Indicators", in Science and Technology Management Informtion Systems, N., UNDP - UNESCO - Indonesian Institute of Sciences, Jarkarta, 1994. 4 phương thức giao dịch.

Tiếp đến là giai đoạn đàm phán; doanh nghiệp tiến hành đàm phán các điều khoản của hợp đồng, đồng thời hoàn tất các khía cạnh về pháp lý, nguồn lực và hậu cần. Một trong các hoạt động quan trọng trong chuyển giao công nghệ là đánh giá công nghệ ở mức doanh nghiệp nhằm lưa chọn một trong số nhiều công nghệ khác nhau để thoả mãn tối ưu những thông số do doanh nghiệp xác định trước. Đánh giá này thường diễn ra với 4 bước: đánh giá sơ bộ, đánh giá khả năng chuyển giao, đánh giá thị trường, đánh giá thương mại. ở đây có nhiều yếu tố phải xem xét đến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu phát triển hoạt động tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ tại Việt Nam là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tư vấn và môi giới trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ. Tài liệu này không chỉ làm rõ vai trò của các tổ chức môi giới trong việc kết nối giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp mà còn đưa ra các khuyến nghị cụ thể để thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, góp phần phát triển kinh tế và công nghệ tại Việt Nam. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến lĩnh vực này.

Để hiểu sâu hơn về vai trò của các tổ chức môi giới, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý khoa học và công nghệ vai trò tổ chức môi giới chuyển giao công nghệ từ viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam đến các doanh nghiệp. Nếu quan tâm đến các biện pháp liên kết để thúc đẩy chuyển giao công nghệ, Luận văn thạc sĩ quản lý khoa học và công nghệ biện pháp liên kết hoạt động của các chợ công nghệ nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ tại khu vực phía nam là tài liệu phù hợp. Ngoài ra, để khám phá thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, hãy xem Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ việt nam. Mỗi tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề.