Tổng quan về luận án

Trong kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo (ĐMST), đặc biệt là ĐMST sản phẩm, giữ vai trò sống còn đối với năng lực cạnh tranh quốc gia và sự tồn tại bền vững của tổ chức. Tại Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 đã khẳng định ĐMST là động lực cốt lõi tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả nền kinh tế. Trong hệ sinh thái đó, doanh nghiệp khoa học và công nghệ (DNKH&CN) được định vị là lực lượng tiên phong, giữ vai trò đòn bẩy đưa các kết quả nghiên cứu và phát triển (NC&PT) vào chuỗi giá trị thương mại.

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Khoa học quản lý (Mã số: 9310110) với đề tài "Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam", do nghiên cứu sinh Trần Lan Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Mai Ngọc Anh và TS. Nguyễn Hữu Xuyên tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2021), đại diện cho một công trình nghiên cứu tiên phong, giải quyết trực diện khoảng trống học thuật về cơ chế quản trị ĐMST tại thị trường mới nổi.

Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) được xác định rõ ràng: Phần lớn các nghiên cứu trước đây tại các quốc gia phát triển tập trung vào ĐMST trong các doanh nghiệp quy mô lớn hoặc doanh nghiệp chế tạo nói chung (Laursen & Salter, 2006; Spithoven et al., 2013). Ngược lại, tại các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, chưa có công trình nào tích hợp đồng thời lý thuyết ĐMST đóng - mở (Open Innovation Theory) và quan điểm dựa trên thể chế (Institutional-Based View - IBV) để đo lường độc lập tác động của cả ba cơ chế ĐMST mở (hướng vào, hướng ra, kết hợp) cùng các nhân tố thể chế đến kết quả ĐMST sản phẩm trong nhóm DNKH&CN.

Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Các cơ chế ĐMST mở nào đang được thực thi tại các DNKH&CN, mức độ mở ra sao và tác động thế nào đến ĐMST sản phẩm?
  2. Cường độ đầu tư cho hoạt động NC&PT nội bộ có tác động như thế nào đến ĐMST sản phẩm tại các DNKH&CN?
  3. Các hình thức hỗ trợ của Nhà nước tác động như thế nào đến ĐMST sản phẩm?
  4. Mức độ bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tác động như thế nào đến ĐMST sản phẩm?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu bao gồm 6 giả thuyết cốt lõi:

  • Giả thuyết H1: ĐMST mở hướng vào có tác động tích cực (+) đến ĐMST sản phẩm của DNKH&CN.
  • Giả thuyết H2: ĐMST mở hướng ra có tác động tích cực (+) đến ĐMST sản phẩm của DNKH&CN.
  • Giả thuyết H3: ĐMST mở kết hợp có tác động tích cực (+) đến ĐMST sản phẩm của DNKH&CN.
  • Giả thuyết H4: Cường độ R&D nội bộ có tác động tích cực (+) đến ĐMST sản phẩm của DNKH&CN.
  • Giả thuyết H5: Hỗ trợ của Nhà nước có tác động tích cực (+) đến ĐMST sản phẩm của DNKH&CN.
  • Giả thuyết H6: Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ có tác động tích cực (+) đến ĐMST sản phẩm của DNKH&CN.

Về quy mô và phạm vi, nghiên cứu khảo sát mẫu sơ cấp gồm $n = 106$ doanh nghiệp hoạt động theo mô hình DNKH&CN trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam trong giai đoạn 2019–2020, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp từ năm 2004 đến 2020. Dữ liệu thực chứng từ Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN được trích dẫn phản ánh quy mô bối cảnh:

"Tính đến tháng 8 năm 2019, cả nước có 468 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận DNKH&CN, hoạt động trong nhiều lĩnh vực chủ yếu như giao thông, xây dựng, y tế, nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ cao... tạo việc làm cho 23.989 người lao động, ghi nhận doanh thu năm 2018 đạt hơn 160.887,4 tỷ đồng với 165 doanh nghiệp cung cấp thông tin... đạt 2,9% GDP cả nước."

Tuy nhiên, trong 165 doanh nghiệp báo cáo sản xuất kinh doanh, chỉ có 147 doanh nghiệp có lãi và 151 doanh nghiệp đạt điều kiện doanh thu từ sản phẩm KH&CN. Với khoảng 3.000 doanh nghiệp tiềm năng trên cả nước, việc giải mã các động lực thúc đẩy ĐMST sản phẩm mang ý nghĩa chiến lược cấp bách.


Literature Review và Positioning

Khái niệm ĐMST được Schumpeter (1926, 1934) tiên phong tiếp cận qua khái niệm "sự phá hủy mang tính sáng tạo" (creative destruction) và "những tổ hợp phối hợp mới", vạch rõ ranh giới giữa sáng chế kỹ thuật thuần túy (invention) và ĐMST (innovation) – nơi sự thành công thương mại là điều kiện bắt buộc (De Jong & Brouwer, 1999). Lundvall (2012) bổ sung quan điểm ĐMST là một quá trình học hỏi mang tính tích tụ và bồi đắp (cumulative process). Tiếp cận theo chuẩn mực quốc tế, luận án áp dụng định nghĩa từ Cẩm nang Oslo:

"ĐMST là sự thực thi áp dụng một sản phẩm (hàng hoá hay dịch vụ) hoặc quy trình mới hay cải tiến đáng kể, một phương pháp marketing mới hay là phương thức tổ chức mới trong thực tiễn hoạt động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ với bên ngoài." (OECD, 2005, tr. 46; OECD/Eurostat, 2018).

Trong y văn quản trị học, tồn tại các cuộc tranh luận gay gắt giữa hai trường phái:

  • Trường phái truyền thống (ĐMST đóng & Resource-Based View - RBV): Các học giả như Barney (1991), Katila & Ahuja (2002) cho rằng năng lực công nghệ nội bộ vượt trội và việc bảo mật tài sản trí tuệ khép kín là nguồn gốc duy nhất của lợi thế cạnh tranh bền vững, ngăn ngừa rủi ro rò rỉ tri thức (knowledge spillovers).
  • Trường phái ĐMST mở (Open Innovation): Chesbrough (2003, 2006) và Dahlander & Gann (2010) phản biện rằng mô hình R&D khép kín dẫn đến hội chứng "Not Invented Here" (từ chối sáng kiến bên ngoài), gây lãng phí nguồn lực và bỏ lỡ cơ hội thương mại hóa. Doanh nghiệp cần phối hợp linh hoạt luồng tri thức bên ngoài vào (inbound) và đưa tri thức chưa sử dụng ra thị trường (outbound).

Về mặt định vị học thuật, luận án tiến xa hơn các công trình quốc tế khi đặt mô hình vào bối cảnh thể chế đặc thù của nền kinh tế chuyển đổi:

  • So với công trình của Cheng & Huizingh (2014) trên 223 doanh nghiệp dịch vụ tại Đài Loan (chỉ gộp chung ĐMST mở thành một biến cấu trúc tiềm ẩn tổng quát), luận án của NCS. Trần Lan Hương bóc tách riêng rẽ cả ba cơ chế (hướng vào, hướng ra, kết hợp) để lượng hóa tác động biên trực tiếp đến xác suất tạo ra sản phẩm mới.
  • So với nghiên cứu của Spithoven et al. (2013) tại Bỉ (chứng minh doanh nghiệp vừa và nhỏ tận dụng ĐMST mở để bù đắp hạn chế quy mô trong môi trường thực thi pháp luật hoàn thiện), nghiên cứu tại Việt Nam kiểm định rõ ràng vai trò can thiệp của chính sách Nhà nước và hiệu lực bảo hộ SHTT khi các định chế thị trường chưa phát triển toàn diện.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng biên giới của Lý thuyết ĐMST Mở (Chesbrough, 2003, 2006, 2014) thông qua việc chứng minh tính tương thích của mô hình này đối với loại hình DNKH&CN tại các nền kinh tế đang phát triển. Nghiên cứu xác lập rằng ĐMST mở không thay thế mà vận hành đồng hành cùng năng lực R&D nội sinh (Absorptive Capacity).

Đồng thời, luận án kết hợp thành công Quan điểm dựa trên Thể chế (Peng, 2002, 2009), làm rõ vai trò của thể chế chính thức (chính sách ưu đãi, tài trợ, khung pháp lý SHTT) trong việc giảm thiểu chi phí giao dịch và chia sẻ rủi ro nghiên cứu cho các doanh nghiệp công nghệ cao quy mô vừa và nhỏ.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đa chiều ba trụ cột lý thuyết: Lý thuyết ĐMST Đóng - Mở, Quan điểm dựa trên Thể chế (IBV), và Học thuyết Quyền biến (Contingency Theory - Burns & Stalker, 1961).

Khái niệm DNKH&CN được định danh chuẩn xác dựa trên cơ sở pháp lý:

"Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hoá từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ." (Điều 58, Luật Khoa học và công nghệ 2013; Nghị định 13/2019/NĐ-CP).

Điều kiện biên (Boundary conditions) của mô hình được thiết lập cụ thể: Áp dụng cho các doanh nghiệp có hoạt động R&D hướng tới tỷ trọng doanh thu từ sản phẩm KH&CN đạt tối thiểu 30%, đối diện trực tiếp với rủi ro công nghệ cao và độ trễ thương mại hóa.


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng triết lý thực chứng (positivism) với phương pháp suy diễn giả thuyết (hypothetico-deductive approach). Thiết kế nghiên cứu kết hợp phương pháp hỗn hợp (mixed methods):

  1. Giai đoạn định tính: Rà soát tài liệu, phỏng vấn sâu chuyên gia từ Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) nhằm hiệu chỉnh bảng hỏi phù hợp thực tiễn chuyển đổi thể chế tại Việt Nam.
  2. Giai đoạn định lượng: Khảo sát diện rộng bằng bảng câu hỏi cấu trúc trên quy mô toàn quốc.

Thiết kế đa cấp độ (multi-level perspective) bao hàm việc đánh giá tác động từ cấp độ môi trường thể chế vĩ mô (chính sách, SHTT) đến cấp độ vi mô tổ chức (chiến lược R&D, dòng tri thức mở).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu xác suất phân tầng và mẫu chủ đích, tiếp cận cả hai nhóm: DNKH&CN đã cấp chứng nhận và các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng.

Công cụ thu thập dữ liệu được thiết kế dựa trên thang đo Likert 5 mức độ kế thừa từ các nghiên cứu quốc tế đã được chuẩn hóa. Thang đo trải qua hai vòng kiểm định độ tin cậy:

  • Cronbach’s Alpha: Đánh giá ban đầu và đánh giá lại sau khi thanh lọc biến rác đối với các thang đo OIhuongvao, OIhuongra, OIkethop, và Sở hữu trí tuệ, đảm bảo tất cả các hệ số đều vượt ngưỡng tin cậy ($\alpha > 0.7$).
  • Phân tích EFA: Đảm bảo toàn bộ giá trị hội tụ (convergent validity) và giá trị phân biệt (discriminant validity) rõ ràng giữa các cấu trúc tiềm ẩn.

Data và phân tích

Mẫu khảo sát hoàn chỉnh gồm $n = 106$ doanh nghiệp, được phân tách thành hai nhóm rõ rệt: $n = 99$ doanh nghiệp có thực hiện ĐMST sản phẩm và $n = 7$ doanh nghiệp không thực hiện ĐMST sản phẩm trong kỳ phân tích.

Mô hình kinh tế lượng sử dụng kỹ thuật Hồi quy Logistic Nhị phân (Binary Logistic Regression) trên phần mềm chuyên dụng (Stata/SPSS) với biến phụ thuộc dạng nhị phân ($Y = 1$: Doanh nghiệp có ĐMST sản phẩm; $Y = 0$: Doanh nghiệp không ĐMST sản phẩm). Các kiểm định chẩn đoán mô hình nghiêm ngặt bao gồm:

  • Kiểm định đa cộng tuyến: Hệ số phóng đại phương sai (VIF) của tất cả các biến độc lập đều nhỏ hơn 10 (phần lớn dao động quanh mức 1.2 - 2.5), khẳng định không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
  • Kiểm định độ phù hợp mô hình: Lệnh fitstat xác nhận các chỉ số AIC, BIC và Pseudo-$R^2$ đạt chuẩn.
  • Kiểm định Hosmer-Lemeshow: Giá trị $p$-value $> 0.05$, chỉ ra không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tần số quan sát thực tế và giá trị dự báo từ mô hình.
  • Kiểm định chỉ định sai mô hình (linktest): Biến _hat có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$) trong khi biến _hatsq không có ý nghĩa thống kê ($p > 0.05$), chứng minh mô hình không bị thiếu biến quan trọng và dạng hàm được thiết lập chính xác.
  • Bảng phân loại dự báo (Classification table): Tỷ lệ phân loại chính xác tổng thể đạt mức cao.
  • Phân tích tác động biên (Marginal Effects - margins, dydx(*)): Cho phép định lượng sự thay đổi xác suất ĐMST sản phẩm khi một biến độc lập tăng thêm 1 đơn vị tại giá trị trung bình.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Nghịch lý giữa tỷ lệ đổi mới và thành công thương mại: Mặc dù trên 93.4% ($99/106$) doanh nghiệp khảo sát có hoạt động giới thiệu ĐMST sản phẩm ra thị trường, song doanh thu tạo ra từ các sản phẩm KH&CN còn khiêm tốn, phần lớn chưa đạt ngưỡng 30% tổng doanh thu theo quy định tại Nghị định 13/2019/NĐ-CP để hưởng ưu đãi thuế trọn vẹn.
  2. Sức mạnh vượt trội của ĐMST mở hướng vào và kết hợp: Biến OIhuongvaoOIkethop có hệ số hồi quy dương và tác động biên có ý nghĩa thống kê cao. Việc chủ động mua sắm li-xăng, tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ trường đại học, viện nghiên cứu và đồng sáng tạo cùng khách hàng/đối tác giúp tăng xác suất ĐMST sản phẩm lên đáng kể.
  3. Vai trò nền tảng không thể thay thế của R&D nội bộ: Cường độ chi tiêu cho R&D nội bộ (CuongdoRD) giữ mối quan hệ đồng biến mạnh với xác suất đổi mới ($p < 0.01$). Điều này bác bỏ quan điểm cho rằng ĐMST mở có thể thay thế hoàn toàn R&D nội bộ; ngược lại, R&D nội bộ xây dựng "năng lực hấp thụ" để tiếp nhận tri thức bên ngoài.
  4. Hỗ trợ Nhà nước là đòn bẩy thể chế quyết định: Biến Hotronhanuoc tác động tích cực có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$). Các hình thức hỗ trợ về vốn mồi, quỹ phát triển KH&CN, và miễn giảm tiền thuê đất giúp giải tỏa rủi ro tài chính ban đầu cho doanh nghiệp.
  5. Phát hiện nghịch biến/không có ý nghĩa thống kê (Counter-intuitive / Non-supported findings):
    • Giả thuyết về ĐMST mở hướng ra (OIhuongra - bán bản quyền, spin-off) không đạt ý nghĩa thống kê. Nguyên nhân do thị trường giao dịch công nghệ tại Việt Nam còn sơ khai, doanh nghiệp thiếu các kênh trung gian tin cậy để định giá và thương mại hóa sáng chế ra ngoài.
    • Giả thuyết về Bảo hộ và thực thi quyền SHTT (SoHuuTriTue) chưa thể hiện tác động thúc đẩy trực tiếp rõ nét do tình trạng vi phạm bản quyền còn phức tạp và chi phí theo đuổi tố tụng bảo vệ quyền SHTT còn cao.

Implications đa chiều

  • Học thuật (Theoretical Advances): Bổ sung bằng chứng thực nghiệm vững chắc xác nhận mô hình liên minh tri thức (OI) kết hợp với Thể chế (IBV) tại các thị trường mới nổi thuộc khối ASEAN.
  • Phương pháp luận (Methodological Innovations): Cung cấp bộ thang đo chuẩn hóa về 3 cơ chế ĐMST mở và thang đo thể chế hỗ trợ, có thể tái lập trong các nghiên cứu tương lai về kinh tế học công nghệ.
  • Quản trị doanh nghiệp (Practical Applications): Nhà quản lý DNKH&CN cần chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy "tự cung tự cấp R&D khép kín" sang chiến lược ĐMST mở; tích cực kết nối mạng lưới với các viện nghiên cứu công lập, đồng thời duy trì ngân sách R&D nội bộ tối thiểu để bảo tồn năng lực hấp thụ.
  • Hoạch định chính sách (Policy Recommendations): Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ KH&CN, Bộ Tài chính) cần đơn giản hóa thủ tục hành chính tiếp cận quỹ hỗ trợ KH&CN; hoàn thiện khung khổ pháp lý sàn giao dịch công nghệ; nâng cao hiệu lực chế tài thực thi quyền sở hữu trí tuệ để bảo vệ tài sản vô hình cho DNKH&CN.

Limitations và Future Research

Luận án chỉ ra 4 giới hạn nghiên cứu chính:

  1. Quy mô mẫu: Mặc dù mẫu $n = 106$ là nỗ lực thu thập lớn trong tổng thể 468 DNKH&CN được cấp phép tại thời điểm khảo sát, quy mô mẫu vẫn còn khiêm tốn để phân tích sâu theo từng phân ngành công nghệ riêng biệt (công nghệ sinh học, vật liệu mới, CNTT).
  2. Dữ liệu cắt ngang (Cross-sectional Data): Dữ liệu sơ cấp được thu thập tại một thời điểm (2019–2020), do đó chưa phản ánh toàn diện độ trễ thời gian (time-lag) từ lúc đầu tư R&D/tiếp nhận ĐMST mở đến khi sản phẩm gặt hái doanh thu thương mại.
  3. Biến phụ thuộc dạng nhị phân: Luận án chủ yếu đo lường xác suất xảy ra ĐMST sản phẩm ($0/1$), chưa lượng hóa sâu mức độ đột phá triệt để (radical) so với cải tiến gia tăng (incremental).

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Agenda):

  • Phát triển các bộ dữ liệu mảng (panel data) theo dõi dọc 5–10 năm.
  • Nghiên cứu vai trò điều tiết của Chuyển đổi số và Trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc tối ưu hóa chi phí tìm kiếm tri thức mở.
  • Mở rộng nghiên cứu tác động của ĐMST sản phẩm đến hiệu quả tài chính dài hạn (ROA, Tobin’s Q, thị phần).

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo chuẩn mực tại Việt Nam về ứng dụng kinh tế lượng trong lượng hóa ĐMST mở, mở đường cho hàng loạt nghiên cứu tiếp nối về quản trị công nghệ và chính sách đổi mới quốc gia.
  • Chuyển đổi công nghiệp: Định hình lại chiến lược thương mại hóa tài sản trí tuệ trong các ngành trọng điểm như nông nghiệp công nghệ cao, tự động hóa, thiết bị y tế và phần mềm viễn thông.
  • Tác động chính sách: Cung cấp căn cứ thực chứng khoa học phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Khoa học và Công nghệ, hoàn thiện cơ chế hướng dẫn thực thi Nghị định 13/2019/NĐ-CP và các chương trình quốc gia hỗ trợ DNKH&CN giai đoạn 2021–2030.
  • Lợi ích kinh tế - xã hội: Gián tiếp thúc đẩy việc gia tăng số lượng và chất lượng các DNKH&CN, tạo việc làm chuyên môn cao và nâng tỷ trọng đóng góp của kinh tế tri thức vào GDP.

Đối tượng hưởng lợi


Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Đóng góp độc đáo nhất là việc vận dụng tích hợp Lý thuyết ĐMST Mở (Chesbrough, 2003, 2006) và Quan điểm dựa trên Thể chế (Peng, 2002, 2009) để giải thích hành vi ĐMST sản phẩm của DNKH&CN tại một nền kinh tế chuyển đổi. Nghiên cứu đã chứng minh thực nghiệm rằng ĐMST mở không vận hành tách rời mà phụ thuộc mật thiết vào bối cảnh thể chế hỗ trợ và năng lực hấp thụ R&D nội sinh.

2. Điểm mới về mặt phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?

So với các nghiên cứu tiền nhiệm như Cheng & Huizingh (2014) hay Spithoven et al. (2013), luận án đã xây dựng và kiểm định thành công bộ thang đo riêng biệt cho cả 3 cơ chế ĐMST mở (hướng vào, hướng ra, kết hợp) trong bối cảnh DNKH&CN Việt Nam; sử dụng mô hình Binary Logit kết hợp phân tích tác động biên (margins), kiểm định chẩn đoán độ phù hợp toàn diện (linktest, Hosmer-Lemeshow, fitstat, VIF).

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?

Phát hiện bất ngờ nhất là ĐMST mở hướng ra (OIhuongra) và Thực thi quyền SHTT (SoHuuTriTue) chưa có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến việc hình thành ĐMST sản phẩm. Kết quả này phản ánh chân thực rào cản về thị trường KH&CN kém thanh khoản và hiệu lực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn yếu tại Việt Nam, buộc doanh nghiệp phải dựa chủ yếu vào luồng tri thức hướng vào và liên kết hợp tác.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?

Có. Luận án mô tả chi tiết nguồn gốc bảng hỏi, quy trình làm sạch dữ liệu, các bước làm sạch thang đo bằng Cronbach's Alpha và EFA, cấu trúc ma trận tương quan, lệnh phân tích kinh tế lượng và các tiêu chuẩn kiểm định mô hình, cho phép các nhà nghiên cứu khác hoàn toàn có thể tái lập trên các mẫu dữ liệu mới.

5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được vạch ra ra sao?

Luận án gợi mở lộ trình nghiên cứu dài hạn tập trung vào: (1) Xây dựng cơ sở dữ liệu mảng (Panel Data) theo dõi hành vi ĐMST của DNKH&CN qua nhiều chu kỳ kinh tế; (2) Đánh giá tác động tương hỗ giữa ĐMST mở và chuyển đổi số/AI; (3) Đo lường hiệu quả ĐMST bền vững (Sustainable Innovation Performance) gắn với tiêu chuẩn Net Zero và ESG.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Trần Lan Hương đã đạt được 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  1. Thiết lập mô hình lý thuyết tích hợp: Kết hợp hài hòa giữa Lý thuyết ĐMST Đóng - Mở (Chesbrough) và Quan điểm dựa trên Thể chế (Peng), giải quyết trọn vẹn bài toán xác định các động lực nội sinh và ngoại sinh chi phối ĐMST sản phẩm.
  2. Kiểm định thang đo ĐMST mở đa chiều: Chuẩn hóa thành công bộ thang đo 3 cơ chế ĐMST mở (hướng vào, hướng ra, kết hợp) đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ cao trong điều kiện thực tiễn doanh nghiệp Việt Nam.
  3. Cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá trị: Khẳng định vai trò tương hỗ quyết định giữa ĐMST mở hướng vào, ĐMST mở kết hợp, năng lực R&D nội bộ và các chính sách trợ cấp của Nhà nước trong việc gia tăng xác suất thành công của ĐMST sản phẩm.
  4. Vạch rõ rào cản thể chế thị trường: Chỉ ra điểm nghẽn của thị trường giao dịch công nghệ và việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, lý giải vì sao ĐMST mở hướng ra chưa phát huy hiệu quả.
  5. Đề xuất giải pháp chính sách và quản trị khả thi: Hệ thống hóa các khuyến nghị thực tiễn cho cơ quan quản lý nhà nước và lãnh đạo doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Công trình không chỉ làm phong phú thêm kho tàng lý luận về quản lý khoa học công nghệ mà còn đặt nền móng phương pháp luận vững chắc cho các nghiên cứu ĐMST tại các nền kinh tế đang phát triển trong thập kỷ tới.