Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngành Quản lý kinh tế, chuyên ngành Khoa học quản lý (mã số: 9310110) với đề tài "Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trần Lan Hương thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Mai Ngọc Anh và TS. Nguyễn Hữu Xuyên.
Tính cấp thiết của nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh thị trường, nơi vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn. Đổi mới sáng tạo (ĐMST) đã được khẳng định là động lực phát triển then chốt trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 của Việt Nam. Báo cáo của World Bank (2013) cũng chỉ ra tăng trưởng dựa trên tài nguyên và lao động giá rẻ không thể duy trì lâu dài, đòi hỏi chuyển dịch sang nền tảng khoa học, công nghệ và ĐMST. Tại Việt Nam, doanh nghiệp khoa học và công nghệ (DNKH&CN) đóng vai trò nòng cốt trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, tính đến tháng 8 năm 2019, cả nước chỉ có 468 doanh nghiệp được cấp chứng nhận DNKH&CN. Trong 165 đơn vị báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2018 (đạt doanh thu hơn 160.887,4 tỷ đồng, đóng góp 2,9% GDP), chỉ có 151 đơn vị phát sinh doanh thu từ sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu. Thực tế khảo sát của tác giả cho thấy tỷ lệ giới thiệu ĐMST sản phẩm của nhóm doanh nghiệp này đạt trên 90%, nhưng doanh thu từ sản phẩm KH&CN bình quân chỉ chiếm dưới 30% tổng doanh thu, chưa đạt ngưỡng yêu cầu của Nghị định số 13/2019/NĐ-CP để hưởng đầy đủ ưu đãi. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: tại Việt Nam, chưa có công trình nào đo lường độc lập cả ba cơ chế ĐMST mở và kiểm định định lượng tác động của chúng cùng các nhân tố thể chế tới ĐMST sản phẩm trong các DNKH&CN.
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định các nhân tố nội sinh và ngoại sinh tác động tới ĐMST sản phẩm trong các DNKH&CN Việt Nam. Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Các cơ chế ĐMST mở nào đang được thực thi tại các DNKH&CN, mức độ mở của các cơ chế này và các cơ chế của ĐMST mở có tác động như thế nào đến ĐMST sản phẩm tại các DNKH&CN?
- Cường độ đầu tư cho hoạt động NC&TK nội bộ có tác động như thế nào đến ĐMST sản phẩm tại các DNKH&CN?
- Các hỗ trợ nhà nước có tác động như thế nào tới đổi mới sáng tạo sản phẩm?
- Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ có tác động như thế nào tới đổi mới sáng tạo sản phẩm?
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố nội sinh và ngoại sinh tác động tới ĐMST sản phẩm. Khách thể nghiên cứu bao gồm các doanh nghiệp đã, đang và có ý định đề nghị cấp giấy chứng nhận DNKH&CN theo Điều 7 Nghị định số 13/2019/NĐ-CP (hoạt động theo mô hình DNKH&CN). Phạm vi không gian trải dài trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Phạm vi thời gian bao gồm dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2004 - 2020 (tính từ Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN) và dữ liệu sơ cấp thu thập trong các năm 2019 - 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án tập hợp hệ thống các nghiên cứu trong nước và quốc tế xoay quanh ba nội dung: bản chất ĐMST sản phẩm, các yếu tố tác động nội sinh và các yếu tố tác động ngoại sinh.
Về bản chất ĐMST và ĐMST sản phẩm, tác giả điểm lại phân biệt giữa sáng chế và ĐMST của Schumpeter (1926, trích trong De Jong & Brower, 1999), Keith & Theodore (1984), Damanpour (1992), Damanpour & Wischnevsky (2006), và Lundvall (2012). Tác giả tiếp cận định nghĩa ĐMST theo chuẩn mực của OECD (2005, 2018), chia kết quả ĐMST thành ĐMST sản phẩm, quy trình, tiếp thị và tổ chức. Các tiêu chí đánh giá ĐMST sản phẩm được tổng hợp từ nghiên cứu của Becheikh và cộng sự (2006), Romijn & Albaladejo (2002), Laursen & Salter (2006), Frit (1989), Vega-Jurado và cộng sự (2008), và Spithoven và cộng sự (2013). Các tác giả này đo lường ĐMST sản phẩm qua khả năng hoàn thiện ít nhất một sản phẩm mới, số lượng bằng sáng chế, tính mới đối với thị trường hay doanh nghiệp, và tỷ lệ doanh thu từ sản phẩm mới.
Về các nhân tố nội sinh và mô hình ĐMST mở, luận án kế thừa lý thuyết của Chesbrough (2003, 2006, 2014) về ĐMST đóng và mở. Tác giả phân tích các nghiên cứu thực nghiệm của Chesbrough & Crowther (2006), Lichtenthaler (2008, 2009, 2011), Dahlander & Gann (2010), Lee và cộng sự (2010), Parida và cộng sự (2012), Pullen và cộng sự (2012), Spithoven và cộng sự (2013), và Cheng & Huizingh (2014). Các công trình này chỉ ra lợi ích của việc tiếp nhận tri thức bên ngoài cũng như chia sẻ rủi ro R&D, tuy nhiên Cheng & Huizingh (2014) gom ba cơ chế mở thành một biến tiềm ẩn thay vì phân tích độc lập tác động của từng cơ chế.
Về các nhân tố ngoại sinh, luận án dựa trên học thuyết quyền biến của Burns & Stalker (1961), Hall và cộng sự (1968), phân loại nhân tố môi trường của Becheikh và cộng sự (2006), và quan điểm dựa trên thể chế của Peng (2002, 2009). Các nghiên cứu thực nghiệm được điểm lại bao gồm Davis & Meyer (2004), De Jong & Vermeulen (2006), Gómez và cộng sự (2016) về ngành; Garcia Martinez và cộng sự (2014), Medda (2020) về mạng lưới hợp tác; Barasa và cộng sự (2017) về hỗ trợ công; và nghiên cứu tại Việt Nam của Pham & Matsunaga (2019), Thuy Phung Minh Thu và cộng sự (2018) về vị trí địa lý cùng chính sách chính phủ. Về đối tượng DNKH&CN tại Việt Nam, luận án điểm lại các công trình của Nguyễn Thị Minh Nga (2006, 2013), Mai Hà và cộng sự (2015), Hoàng Văn Tuyên (2016), Phạm Hồng Quất (2018), Đào Quang Thủy (2019), và Đào Quang Thủy & Lê Thị Kim Chi (2020).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là tích hợp đồng thời lý thuyết ĐMST đóng - mở và quan điểm dựa trên thể chế để đánh giá riêng rẽ ba cơ chế ĐMST mở (hướng vào, hướng ra, kết hợp), cường độ R&D nội bộ, chính sách hỗ trợ của Nhà nước và bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với kết quả ĐMST sản phẩm trong bối cảnh các DNKH&CN Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hai lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết ĐMST đóng và mở (Chesbrough, 2003, 2006, 2014): Phân định giữa cơ chế đóng (doanh nghiệp tự thực hiện mọi hoạt động R&D nội bộ) và cơ chế mở (tận dụng luồng tri thức bên ngoài vào, luồng tri thức bên trong ra, hoặc luồng tri thức kết hợp). Nhóm nhân tố nội sinh được xây dựng gồm: ĐMST mở hướng vào (OI hướng vào), ĐMST mở hướng ra (OI hướng ra), ĐMST mở kết hợp (OI kết hợp), và Cường độ nghiên cứu và phát triển nội bộ.
- Quan điểm dựa trên thể chế (Institutional-Based View - IBV của Peng, 2002, 2009): Xem xét môi trường thể chế chính thức tác động đến hành vi và kết quả của doanh nghiệp. Nhóm nhân tố ngoại sinh được xây dựng gồm: Hỗ trợ nhà nước (tài chính, kỹ thuật, mặt bằng, thuế) và Bảo hộ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT).
Biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy là ĐMST sản phẩm, được xác định là biến nhị phân phản ánh việc doanh nghiệp có hay không giới thiệu sản phẩm/dịch vụ mới hoặc cải tiến ra thị trường. Bên cạnh đó, các biến kiểm soát được đưa vào gồm: quy mô nguồn vốn, quy mô lao động, loại hình kinh tế, khu vực địa lý và nguồn gốc hình thành của doanh nghiệp.
| Nhóm biến |
Biến số |
Cơ sở lý thuyết |
| Biến phụ thuộc |
ĐMST sản phẩm (nhị phân: 0/1) |
OECD (2005), Romijn & Albaladejo (2002) |
| Biến độc lập nội sinh |
OI hướng vào |
Lý thuyết ĐMST đóng - mở (Chesbrough, 2003, 2006) |
|
OI hướng ra |
Lý thuyết ĐMST đóng - mở (Chesbrough, 2003, 2006) |
|
OI kết hợp |
Lý thuyết ĐMST đóng - mở (Chesbrough, 2003, 2006) |
|
Cường độ R&D nội bộ |
Lý thuyết ĐMST đóng - mở (Chesbrough, 2003, 2006) |
| Biến độc lập ngoại sinh |
Hỗ trợ nhà nước |
Quan điểm dựa trên thể chế (Peng, 2002, 2009) |
|
Bảo hộ và thực thi SHTT |
Quan điểm dựa trên thể chế (Peng, 2002, 2009) |
| Biến kiểm soát |
Quy mô vốn, Lao động, Vị trí địa lý, Loại hình kinh tế |
Học thuyết quyền biến (Burns & Stalker, 1961) |
Phương pháp nghiên cứu thực hiện theo quy trình kết hợp phân tích thứ cấp và điều tra định lượng sơ cấp:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (NISTPASS), Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NASATI), Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ (NATEC) giai đoạn 2004 - 2020.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát bằng bảng hỏi đối với các nhà quản lý doanh nghiệp trong năm 2019 - 2020, thu được mẫu khảo sát hợp lệ gồm 106 DNKH&CN (trong đó có 99 doanh nghiệp có ĐMST sản phẩm và 7 doanh nghiệp không có ĐMST sản phẩm).
- Kỹ thuật xử lý số liệu: Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (ban đầu và đánh giá lại), phân tích nhân tố khám phá (EFA) kiểm tra giá trị hội tụ và phân biệt, phân tích tương quan và kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng nhân tố phóng đại phương sai (VIF). Ước lượng mô hình thông qua hồi quy logistic nhị phân (Binary Logistic Regression). Mức độ phù hợp của mô hình được kiểm định bằng câu lệnh
fitstat, kiểm định Hosmer-Lemeshow (ghi là Horme-Lemeshow trong bảng), câu lệnh linktest, bảng phân loại dự báo (classification table), phân tích xác suất trung bình và tác động biên (marginal effects).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về đổi mới sáng tạo sản phẩm và các nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo sản phẩm
Chương này trình bày hệ thống hóa các quan niệm và trường phái nghiên cứu về ĐMST. Tác giả phân tích sự phát triển của khái niệm ĐMST từ Schumpeter đến các định nghĩa của Keith & Theodore (1984), Damanpour & Wischnevsky (2006), Lundvall (2012) và hướng dẫn chuẩn hóa của OECD (2005, 2018). ĐMST được phân loại theo hình thức (sản phẩm, quy trình, tiếp thị, tổ chức), theo mức độ thay đổi công nghệ (cải tiến, biến đổi thị trường, biến đổi công nghệ, biến đổi căn bản) và theo tính mới (mới đối với doanh nghiệp, thị trường, ngành, hoặc thế giới).
Về kết quả ĐMST sản phẩm, chương 1 tổng hợp các hướng tiếp cận đo lường qua đầu vào, quá trình, đầu ra và tác động thị trường (Janssen và cộng sự, 2011; Rauter và cộng sự, 2019). Chương nghiên cứu phân tích chi tiết các nhóm nhân tố tác động đến ĐMST sản phẩm:
- Nhóm nhân tố nội sinh: Năng lực R&D, chiến lược tìm kiếm tri thức, các hình thức hợp tác và mức độ mở cửa ranh giới doanh nghiệp theo lý thuyết của Chesbrough (2003, 2006).
- Nhóm nhân tố ngoại sinh: Môi trường ngành (mức độ cạnh tranh), đặc điểm vùng địa lý (Pham & Matsunaga, 2019), mạng lưới tương tác (Medda, 2020), và các chính sách hỗ trợ tài chính, phi tài chính của chính phủ (Barasa và cộng sự, 2017).
Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Chương này tập trung làm rõ bản chất lý luận của DNKH&CN. Trên thế giới, loại hình này gắn liền với các mô hình doanh nghiệp spin-offs (tách ra từ trường đại học, viện nghiên cứu) hoặc start-ups công nghệ (Nguyễn Vân Anh và cộng sự, 2014; Mai Hà và cộng sự, 2015). Tại Việt Nam, khái niệm được định chế hóa tại Điều 58 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 và Nghị định số 13/2019/NĐ-CP, xác định đây là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để tạo ra sản phẩm từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, yêu cầu tỷ lệ doanh thu từ sản phẩm KH&CN tối thiểu đạt 30% sau 5 năm thành lập. DNKH&CN mang các đặc trưng: quy mô chủ yếu vừa và nhỏ, hàm lượng tri thức và tri thức ngầm cao (Lawson & Lorenz, 1999), đầu tư chứa đựng rủi ro và có độ trễ lớn.
Tác giả thiết lập khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết ĐMST đóng - mở và quan điểm thể chế. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 giả thuyết chính liên quan đến các nhân tố:
- ĐMST mở hướng vào có tác động tích cực đến ĐMST sản phẩm.
- ĐMST mở hướng ra có tác động tích cực đến ĐMST sản phẩm.
- ĐMST mở kết hợp có tác động tích cực đến ĐMST sản phẩm.
- Cường độ đầu tư R&D nội bộ có tác động tích cực đến ĐMST sản phẩm.
- Hỗ trợ của Nhà nước có tác động tích cực đến ĐMST sản phẩm.
- Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ có tác động tích cực đến ĐMST sản phẩm.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu định lượng kết hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Tác giả xây dựng bảng thang đo ban đầu (Bảng 3.1) cho các biến độc lập và biến phụ thuộc dựa trên các thang đo đã công bố quốc tế, sau đó hiệu chỉnh qua nghiên cứu sơ bộ.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát mẫu n = 106 doanh nghiệp hoạt động theo mô hình DNKH&CN tại Việt Nam. Quy trình xử lý dữ liệu gồm các bước:
- Đánh giá độ tin cậy thang đo qua kiểm định hệ số Cronbach's Alpha ban đầu và sau loại biến cho các thang đo:
OIhuongvao (Bảng 4.5a, 4.5b), OIhuongra (Bảng 4.6a, 4.6b), OIkethop (Bảng 4.7a, 4.7b), và Sở hữu trí tuệ (Bảng 4.8).
- Phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 4.9) để kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các cấu trúc đo lường.
- Kiểm tra tương quan (Bảng 4.10) và hiện tượng đa cộng tuyến qua chỉ số VIF (Bảng 4.11).
- Phân tích hồi quy logistic nhị phân (Bảng 4.12) để xác định tác động của các biến độc lập tới khả năng xảy ra ĐMST sản phẩm.
- Thực hiện các kiểm định độ phù hợp mô hình: câu lệnh
fitstat (Bảng 4.13), kiểm định Hosmer-Lemeshow (Bảng 4.14), câu lệnh linktest (Bảng 4.15), và bảng phân loại tỷ lệ dự báo chính xác (Bảng 4.16).
- Tính toán xác suất dự báo tại giá trị trung bình (Bảng 4.17) và tác động biên của từng biến độc lập (Bảng 4.18, Hình 4.10).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng và kết quả kiểm định mô hình. Về thực trạng, tính đến tháng 8/2019 cả nước có 468 DNKH&CN được cấp giấy chứng nhận, tập trung vào y tế, nông nghiệp, xây dựng, giao thông và công nghệ cao; 165 doanh nghiệp báo cáo doanh thu 2018 đạt 160.887,4 tỷ đồng, bình quân 975,075 tỷ đồng/doanh nghiệp. Có khoảng 3.000 doanh nghiệp tiềm năng.
Khảo sát mẫu n = 106 cho thấy có 99 doanh nghiệp thực hiện ĐMST sản phẩm và 7 doanh nghiệp không thực hiện. Phân tích mô tả cho thấy phần lớn các DNKH&CN thuộc nhóm quy mô vừa và nhỏ. Tỷ lệ tiếp cận chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn hạn chế (Bảng 4.4, Bảng 5.1).
| Chỉ tiêu mẫu khảo sát (n = 106) |
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
| Doanh nghiệp có ĐMST sản phẩm |
99 |
93,40 |
| Doanh nghiệp không có ĐMST sản phẩm |
7 |
6,60 |
| Tổng số doanh nghiệp trong mẫu khảo sát |
106 |
100,00 |
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy logistic nhị phân (Bảng 4.12) và tóm tắt kiểm định các giả thuyết (Hình 4.11) ghi nhận:
- Các biến ĐMST mở có mối quan hệ tích cực với ĐMST sản phẩm. Cụ thể, việc mở cửa thu hút tri thức và liên kết hợp tác bên ngoài giúp tăng xác suất tạo ra sản phẩm mới.
- Hỗ trợ của Nhà nước có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê tới ĐMST sản phẩm.
- Biến quy mô doanh nghiệp thể hiện mối tương quan thuận chiều với khả năng ĐMST sản phẩm.
- Một số giả thuyết không đạt được mức ý nghĩa thống kê theo kỳ vọng lý thuyết ban đầu được đưa vào bàn luận ở chương tiếp theo.
Chương 5: Bàn luận về kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
Chương 5 thảo luận sâu về các kết quả tìm thấy. Tác giả phân tích cơ chế tác động của ĐMST mở đến ĐMST sản phẩm: sự kết hợp giữa các luồng tri thức giúp doanh nghiệp giảm chi phí thử nghiệm và bù đắp thiếu hụt nguồn lực nghiên cứu. Bàn luận khẳng định vai trò của đầu tư R&D nội bộ không bị triệt tiêu khi mở rộng hợp tác, mà R&D nội bộ đóng vai trò nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, giúp thương mại hóa sản phẩm thành công trên thị trường. Luận án cũng giải thích các nguyên nhân khiến một số giả thuyết không được chấp nhận trong bối cảnh thực tiễn thể chế và quy mô của DNKH&CN Việt Nam.
Từ kết quả thực nghiệm, luận án đưa ra các nhóm khuyến nghị:
- Đối với nhà quản trị DNKH&CN: Dịch chuyển từ mô hình ĐMST khép kín sang mô hình ĐMST mở; chủ động tìm kiếm đối tác liên kết từ trường đại học, viện nghiên cứu và đối tác thị trường; cân đối tỷ lệ phân bổ ngân sách giữa R&D nội bộ và hoạt động khai thác tri thức bên ngoài nhằm gia tăng tỷ trọng doanh thu từ sản phẩm KH&CN đạt ngưỡng quy định 30%.
- Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Hoàn thiện quy trình chứng nhận DNKH&CN, mở rộng chính sách hỗ trợ tín dụng, đơn giản hóa thủ tục hành chính để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiềm năng tiếp cận ưu đãi về thuế và mặt bằng; đồng thời tăng cường hiệu lực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để bảo vệ thành quả nghiên cứu.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt học thuật và lý luận:
- Luận án kết hợp đồng thời hai lý thuyết: lý thuyết ĐMST mở (Chesbrough, 2003, 2006, 2014) và quan điểm dựa trên thể chế (IBV của Peng, 2002, 2009) để xây dựng mô hình nghiên cứu đánh giá tác động của các nhân tố nội sinh và ngoại sinh tới ĐMST sản phẩm ở cấp độ doanh nghiệp.
- Xây dựng và kiểm định độ tin cậy của hệ thống thang đo cho cả ba cơ chế ĐMST mở (hướng vào, hướng ra, kết hợp) trong bối cảnh cụ thể của các DNKH&CN tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Về mặt thực tiễn và quản lý:
- Khẳng định mối quan hệ tích cực giữa việc thực thi ĐMST mở và ĐMST sản phẩm, cung cấp cơ sở để khuyến nghị các DNKH&CN chuyển dịch từ cơ chế hoạt động khép kín sang mở rộng liên kết, khai thác tri thức bên ngoài.
- Xác nhận vai trò của đầu tư cho R&D nội bộ đối với sự thành công thị trường của sản phẩm mới, chỉ ra sự cần thiết phải cân bằng giữa R&D nội bộ và hợp tác mở.
- Chứng minh bằng chứng thực nghiệm về tác động tích cực của hỗ trợ Nhà nước đối với ĐMST sản phẩm, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách công, ưu đãi dành cho cộng đồng DNKH&CN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ các hạn chế nghiên cứu:
- Kích thước mẫu khảo sát còn khiêm tốn (n = 106), trong đó phân bố mẫu có sự chênh lệch lớn giữa doanh nghiệp có ĐMST sản phẩm (99 đơn vị) và không có ĐMST sản phẩm (7 đơn vị).
- Dữ liệu sơ cấp mang tính chất thời điểm (cross-sectional data) thu thập trong giai đoạn 2019 - 2020, chưa phản ánh được sự biến động dài hạn theo chuỗi thời gian của quá trình ĐMST sản phẩm.
- Nghiên cứu tập trung vào ĐMST sản phẩm dưới dạng biến kết quả nhị phân, chưa đi sâu đánh giá toàn diện chu trình của quá trình ĐMST sản phẩm cũng như các loại hình ĐMST khác (quy trình, tổ chức, tiếp thị).
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả định hướng:
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát, bao phủ sâu hơn nhóm các DNKH&CN tiềm năng trên phạm vi toàn quốc.
- Thiết kế nghiên cứu theo dữ liệu bảng (panel data) để kiểm soát trễ thời gian giữa hoạt động đầu tư R&D, ĐMST mở và kết quả thương mại hóa sản phẩm.
- Tiếp tục nghiên cứu sâu các yếu tố điều tiết và cơ chế trung gian dẫn truyền tác động của thể chế tới kết quả ĐMST.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Khoa học quản lý, Quản lý công nghệ: Tham khảo khung lý thuyết tích hợp giữa ĐMST mở và lý thuyết thể chế (Chương 2), cùng quy trình xây dựng thang đo và kiểm định mô hình kinh tế lượng hồi quy logistic nhị phân (Chương 3 và Chương 4).
- Các nhà hoạch định và thực thi chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN: Sử dụng các số liệu thực trạng ở Chương 4 và kiến nghị chính sách ở Chương 5 để rà soát rào cản thụ hưởng ưu đãi theo Nghị định số 13/2019/NĐ-CP.
- Lãnh đạo và nhà quản trị tại các DNKH&CN và doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ: Tham khảo các phân tích về sự cân bằng giữa chi phí R&D nội bộ và khai thác nguồn lực mở bên ngoài để cải thiện năng lực cạnh tranh cho sản phẩm mới.
Câu hỏi thường gặp
Cơ sở pháp lý nào được sử dụng để xác định DNKH&CN trong luận án?
Luận án căn cứ vào Điều 58 Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 và Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ. Theo đó, DNKH&CN là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đáp ứng điều kiện doanh thu từ sản phẩm KH&CN tối thiểu đạt 30% trên tổng doanh thu (áp dụng cho doanh nghiệp thành lập từ 5 năm trở lên).
Mẫu khảo sát thực nghiệm của luận án có quy mô bao nhiêu và phân bố như thế nào?
Mẫu khảo sát chính thức của luận án gồm n = 106 doanh nghiệp hoạt động theo mô hình DNKH&CN trải dài ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Trong đó, có 99 doanh nghiệp đã thực hiện ĐMST sản phẩm (chiếm 93,4%) và 7 doanh nghiệp không thực hiện ĐMST sản phẩm (chiếm 6,6%).
Hai khung lý thuyết nền tảng nào được tích hợp trong mô hình nghiên cứu?
Tác giả tích hợp Lý thuyết đổi mới sáng tạo đóng và mở (Open Innovation) của Chesbrough (2003, 2006, 2014) để định hình các nhân tố nội sinh (ba cơ chế mở: hướng vào, hướng ra, kết hợp và cường độ R&D nội bộ), kết hợp với Quan điểm dựa trên thể chế (Institutional-Based View - IBV) của Peng (2002, 2009) để xác định các nhân tố ngoại sinh (hỗ trợ nhà nước và bảo hộ thực thi quyền sở hữu trí tuệ).
Thực trạng thương mại hóa sản phẩm ĐMST của các DNKH&CN trong mẫu nghiên cứu ra sao?
Mặc dù trên 90% doanh nghiệp khảo sát có giới thiệu sản phẩm ĐMST ra thị trường, nhưng tỷ lệ doanh thu bình quân từ các sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu KH&CN vẫn ở mức dưới 30% tổng doanh thu. Điều này khiến phần lớn doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đáp ứng tiêu chí duy trì chứng nhận và tiếp cận các ưu đãi theo Nghị định số 13/2019/NĐ-CP.
Các kỹ thuật kinh tế lượng nào được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy?
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân (Binary Logistic Regression). Độ phù hợp của mô hình được đánh giá qua câu lệnh fitstat, kiểm định Hosmer-Lemeshow, câu lệnh linktest, bảng phân loại dự báo chính xác, ma trận hệ số tương quan và chỉ số phóng đại phương sai (VIF).
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Lan Hương là công trình nghiên cứu hệ thống về các nhân tố tác động đến ĐMST sản phẩm trong các DNKH&CN tại Việt Nam thông qua việc kết hợp lý thuyết ĐMST đóng - mở và quan điểm dựa trên thể chế. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng trên mẫu 106 doanh nghiệp, tác giả đã kiểm định thực nghiệm vai trò của các cơ chế ĐMST mở, cường độ đầu tư R&D nội bộ và sự hỗ trợ từ chính sách của Nhà nước đối với kết quả ĐMST sản phẩm. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để các nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng chiến lược hợp tác mở và giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện cơ chế chính sách thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng DNKH&CN tại Việt Nam.