Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Khoa học quản lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

204
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yếu tố then chốt trong phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng gay gắt. ĐMST không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì lợi thế cạnh tranh mà còn mở ra cơ hội phát triển bền vững. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ (DNKH&CN) là những đơn vị chuyên sản xuất, kinh doanh dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Theo Luật Khoa học và Công nghệ 2013, DNKH&CN phải đạt ít nhất 30% doanh thu từ sản phẩm công nghệ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp chưa đáp ứng được tiêu chí này, dẫn đến hạn chế trong việc hưởng các ưu đãi và hỗ trợ từ Nhà nước.

1.1. Khái niệm và vai trò của đổi mới sáng tạo

Đổi mới sáng tạo được hiểu là quá trình tạo ra các sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình mới hoặc cải tiến đáng kể so với trước đây. Theo OECD, ĐMST bao gồm bốn loại chính: ĐMST sản phẩm, ĐMST quy trình, ĐMST marketing, và ĐMST tổ chức. Trong đó, ĐMST sản phẩm là việc giới thiệu các hàng hóa/dịch vụ mới hoặc cải tiến, mang lại giá trị gia tăng cao. ĐMST không chỉ là động lực phát triển kinh tế mà còn là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.

1.2. Đặc điểm và thách thức của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ và thúc đẩy sáng tạo. Tuy nhiên, các DNKH&CN tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm hạn chế về nguồn lực tài chính, khó khăn trong tiếp cận thị trường, và sự cạnh tranh từ các sản phẩm nhập khẩu. Theo thống kê, chỉ có khoảng 468 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận DNKH&CN, trong khi số lượng tiềm năng lên đến 3.000. Điều này cho thấy sự cần thiết của các chính sách hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển của nhóm doanh nghiệp này.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm

Nghiên cứu chỉ ra rằng các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong DNKH&CN bao gồm cả yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Các yếu tố nội sinh như năng lực quản lý, nguồn lực tài chính, và trình độ công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ĐMST. Trong khi đó, các yếu tố ngoại sinh như hỗ trợ từ Nhà nước, môi trường kinh doanh, và sự cạnh tranh trong ngành cũng có tác động đáng kể. Đặc biệt, hỗ trợ từ Nhà nước được xem là yếu tố then chốt giúp các DNKH&CN vượt qua rào cản tài chính và công nghệ.

2.1. Nhân tố nội sinh

Các nhân tố nội sinh bao gồm năng lực quản lý, trình độ công nghệ, và nguồn lực tài chính. Năng lực quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch và triển khai các dự án ĐMST. Trình độ công nghệ cao giúp doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, trong khi nguồn lực tài chính đảm bảo khả năng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển. Nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp có nguồn lực tài chính mạnh thường đạt được tỷ lệ thành công cao hơn trong việc đưa sản phẩm mới ra thị trường.

2.2. Nhân tố ngoại sinh

Các nhân tố ngoại sinh bao gồm hỗ trợ từ Nhà nước, môi trường kinh doanh, và sự cạnh tranh trong ngành. Hỗ trợ từ Nhà nước thông qua các chính sách ưu đãi và tài trợ giúp các DNKH&CN giảm bớt gánh nặng tài chính và tập trung vào nghiên cứu. Môi trường kinh doanh thuận lợi tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường và đối tác tiềm năng. Tuy nhiên, sự cạnh tranh trong ngành cũng đặt ra thách thức lớn, đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm.

III. Chiến lược và quản lý đổi mới sáng tạo

Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo sản phẩm, các DNKH&CN cần xây dựng chiến lược đổi mới hiệu quả và áp dụng các phương pháp quản lý đổi mới tiên tiến. Chiến lược đổi mới cần tập trung vào việc phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường. Đồng thời, quản lý đổi mới đòi hỏi sự kết hợp giữa quản lý nguồn lực, quản lý rủi ro, và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác với các đối tác bên ngoài để tận dụng nguồn lực và công nghệ tiên tiến.

3.1. Chiến lược đổi mới sáng tạo

Chiến lược đổi mới sáng tạo cần được xây dựng dựa trên phân tích thị trường và nhu cầu khách hàng. Các DNKH&CN nên tập trung vào việc phát triển các sản phẩm có tính đột phá, mang lại lợi thế cạnh tranh cao. Đồng thời, chiến lược cần linh hoạt để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và thị trường. Nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp áp dụng chiến lược đổi mới mở (open innovation) thường đạt được kết quả tốt hơn trong việc đưa sản phẩm mới ra thị trường.

3.2. Quản lý đổi mới sáng tạo

Quản lý đổi mới sáng tạo đòi hỏi sự kết hợp giữa quản lý nguồn lực, quản lý rủi ro, và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Các DNKH&CN cần xây dựng hệ thống quản lý hiệu quả để đảm bảo các dự án ĐMST được triển khai đúng tiến độ và đạt mục tiêu đề ra. Ngoài ra, việc hợp tác với các đối tác bên ngoài, bao gồm các viện nghiên cứu và trường đại học, cũng giúp doanh nghiệp tiếp cận công nghệ tiên tiến và nguồn lực chất lượng cao.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ quản lý kinh tế các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về đổi mới sáng tạo sản phẩm và các nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo sản phẩm Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Bàn luận về kết quả nghiên cứu và khuyến nghị 7. Những đóng góp mới của luận án Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận - Thứ nhất, luận án đã vận dụng kết hợp hai lý thuyết đổi mới sáng tạo mở (open innovation) và quan điểm dựa trên thể chế (IBV) để xây dựng mô hình nghiên cứu đánh giá các tác động của các nhân tố nội sinh và ngoại sinh tương ứng tới đổi mới sáng tạo sản phẩm ở cấp độ doanh nghiệp. - Thứ hai, dựa trên lý thuyết về đổi mới sáng tạo mở (Chesbrough, 2003; 2006; 2014) và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, luận án này bổ sung xây dựng và kiểm định độ tin cậy của thang đo của cả ba cơ chế đổi mới sáng tạo mở: hướng vào, hướng ra, kết hợp trong bối cảnh nghiên cứu các doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam.

Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu của luận án - Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận án về mối quan hệ tích cực giữa đổi mới sáng tạo mở và đổi mới sáng tạo sản phẩm, nghiên cứu gợi ý rằng các doanh nghiệp khoa học và công nghệ nên dịch chuyển mô hình hoạt động từ phía thực hiện các hoạt động đổi mới sáng tạo khép kín sang phía thực hiện các hoạt động đổi mới sáng tạo mở. Cụ thể, các nhà quản lý doanh nghiệp nên tích cực hơn nữa trong việc mở cửa ranh giới hoạt động của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam đối với các chủ thể bên ngoài, để khai thác các nguồn lực có sẵn bên ngoài và tìm kiếm các đối tác để kết hợp trong các hoạt động đổi mới sáng tạo. - Thêm vào đó, kết quả của nghiên cứu của luận án cũng không phủ nhận vai trò quan trọng của R&D nội bộ đối với đổi mới sáng tạo sản phẩm vì đầu tư cho R&D nội 11 bộ có tác động đến sự thành công về mặt thị trường của đổi mới sáng tạo sản phẩm. Vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược phù hợp và cân bằng giữa đầu tư cho hoạt động R&D nội bộ và hoạt động đổi mới sáng tạo mở để có thể nâng cao khả năng hình thành đổi mới sáng tạo sản phẩm cũng như tăng được tỉ trọng doanh thu từ sản phẩm mới và mức độ mới của sản phẩm mới.

- Cuối cùng, kết quả nghiên cứu của luận án cũng khẳng định vai trò tích cực của hỗ trợ Nhà nước tới đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoạch định và tổ chức thực thi những chính sách công nhằm hỗ trợ, cung cấp ưu đãi cho DNKH&CN để kích thích họ đổi mới sáng tạo sản phẩm. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO SẢN PHẨM VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO SẢN PHẨM 1. Tổng quan nghiên cứu về đổi mới sáng tạo 1. Tổng quan nghiên cứu về khái niệm và vai trò của đổi mới sáng tạo 1.

Khái niệm đổi mới sáng tạo ĐMST (innovation) được coi là tiền đề tạo ra lợi thế cạnh tranh và có tính quyết định đối với sự tồn tại và phát triển không chỉ trong ngắn hạn mà còn mở đường cho tương lai lâu dài của mọi doanh nghiệp. Những nghiên cứu trước về ĐMST đã chỉ ra rằng ĐMST giúp tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp vì nó giảm giá thành và cải thiện chất lượng của sản phẩm/dịch vụ đang có và tạo ra các sản phẩm/dịch vụ mới hoặc cung cấp mô hình kinh doanh hay cách thức phân phối hàng hoá tốt hơn (Hauser và cộng sự, 2006). Vì thế, ĐMST là điều kiên tiên quyết để duy trì sự phát triển bền bững của doanh nghiệp trên thị trường trong nước hay quốc tế (Drucker, 2006). Schumpeter (1926) đã phân biệt giữa khái niệm sáng chế (invention) và đổi mới sáng tạo.

Sáng chế là một ý tưởng hoặc mô hình cho một sản phẩm, quy trình hoặc công nghệ mới hoặc cải tiến. ĐMST là một sản phẩm, quy trình hoặc công nghệ mới hoặc được cải tiến, và thành công về mặt thương mại trên thị trường. Vì vậy, thành công về mặt thương mại là điều kiện cần thiết để một sáng chế trở thành ĐMST (trích dẫn trong De Jong và Brower, 1999, tr 14). Kể từ lần đầu tiên được đề cập đến trong nghiên cứu của học giả Schumpeter như là “những cách phối hợp mới” (new combinations) hay “sự huỷ diệt mang tính sáng tạo” (creative destruction) (trích dẫn trong Lundvall, 2012, tr 9), thuật ngữ ĐMST (innovation) trở thành một khái niệm khoa học thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các học giả.

Keith & Theodore (1984, tr 1) định nghĩa “ ĐMST là quá trình bắt đầu với một sáng chế, tiếp theo là phát triển sáng chế này, và cuối cùng tạo ra kết quả là đưa ra thị trường các sản phẩm mới, quy trình mới hoặc dịch vụ mới”. Cụ thể hơn, Damanpour & Wischnevsky (2006) đề cập tới ĐMST như là sự phát triển và sử dụng các ý tưởng hay hành vi mới trong tổ chức. Ý tưởng mới có thể là một sản phẩm, dịch vụ hoặc phương pháp sản xuất mới (đổi mới kỹ thuật) hoặc là một thị trường, cơ cấu tổ chức hoặc hệ thống quản trị mới (đổi mới quản trị hay ĐMST cơ cấu tổ chức). Trong khi đó, Lundvall (2012, tr 9) cho rằng ĐMST là một quá trình “tích tụ bồi đắp” (cummulative), bao gồm việc liên tục học tập, tìm kiếm và khám phá để hình thành 13 nên các sản phẩm mới, các kỹ thuật mới, các hình thức tổ chức mới và thị trường mới.

Quy trình này diễn ra với tất cả tổ chức trong nền kinh tế, có thể quá trình này xảy ra nhanh chóng và có tính đột phá hay chậm và thay đổi dần dần. Nhìn chung có rất nhiều định nghĩa về ĐMST được đưa ra, ví dụ trong nghiên cứu tổng quan của mình, Edison và cộng sự (2013) và De Jong & Brower (1999) đã tổng quan được hơn 50 định nghĩa về đổi mới sáng tạo, một vài định nghĩa được liệt kê trong hai nghiên cứu tổng quan trên được chỉ ra trong bảng dưới đây. Một số khái niệm đổi mới sáng tạo Acs & Audretsch (1988) ĐMST là một quá trình bắt đầu với một sáng chế, tiến hành phát triển các sáng chế và dẫn đến việc giới thiệu một sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ mới cho thị trường. Damanpour (1992) ĐMST được định nghĩa là việc áp dụng một ý tưởng hoặc hành vi cho dù là một hệ thống, chính sách, chương trình, thiết bị, quy trình, sản phẩm hoặc dịch vụ mới đối với tổ chức áp dụng.

de Jong & Kemp (2003) Hành vi ĐMST có thể được định nghĩa là tất cả các hành động đơn lẻ hướng đến việc tạo ra, giới thiệu và áp dụng những đặc tính mới có lợi ở bất kỳ cấp độ tổ chức nào. Fruhling & Keng (2007) ĐMST là một ý tưởng, thực hành hoặc đối tượng được coi là mới đối với một cá nhân hoặc một đơn vị áp dụng khác. Geiger & Cashen (2002) ĐMST là việc tạo ra sản phẩm mới trong công ty. Hage (1999) ĐMST đã được định nghĩa một cách nhất quán là việc áp dụng một ý tưởng về hành vi mới đối với tổ chức.

Sự đổi mới có thể là một sản phẩm mới, một dịch vụ mới, một công nghệ mới hoặc một phương thức hành chính mới. Palmberg (2004) ĐMST được định nghĩa là một sản phẩm mới về mặt công nghệ hoặc được cải tiến đáng kể so với sản phẩm trước đây của công ty đã được thương mại hóa trên thị trường. Dibrell và cộng sự. (2008) Các ĐMST có mức độ phức tạp khác nhau và có thể bao gồm từ những thay đổi nhỏ đối với các sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ hiện có đến đột phá van Dale, 1992 Giới thiệu một cái gì đó mới; đổi mới về công nghệ hay công nghiệp Buijs, 1987 Sự thích nghi và dự đoán của một tổ chức đối với những thay đổi của môi trường Timmerman, 1985 Sự phát triển và giới thiệu thành công các sản phẩm, dịch vụ, quy trình làm việc mới hoặc cải tiến; đổi mới cũng liên quan đến những thay đổi trong tổ chức, thị trường mới và cải tiến phong cách lãnh đạo Vrakking & Cozijnsen, Mọi đổi mới được thiết kế và thực hiện để củng cố vị thế của một 1992 tổ chức so với các đối thủ cạnh tranh và về lâu dài sẽ dẫn đến lợi thế cạnh tranh Nguồn: Edison và cộng sự (2013, tr.

1395) và De Jong & Brower (1999, tr 14) 14 Tại Việt Nam, thuật ngữ ĐMST được nhắc đến là là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa (Luật Khoa học và công nghệ, 2013). Khái niệm của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế OECD có thể coi là định nghĩa được chấp thuận và sử dụng rộng rãi bởi nhiều nhà nghiên cứu (Phan Thị Thục Anh, 2016). OECD (2005, tr 46) nêu rằng “ĐMST là sự thực thi áp dụng một sản phẩm (hàng hoá hay dịch vụ) hoặc quy trình mới hay cải tiến đáng kể, một phương pháp marketing mới hay là phương thức tổ chức mới trong thực tiễn hoạt động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ với bên ngoài”. Nghiên cứu này cũng sẽ sử dụng định nghĩa của OECD (2005) do tính phổ biến trong nhiều nghiên cứu và điều tra khảo sát về ĐMST trên thế giới và tại Việt Nam.

Vai trò của đổi mới sáng tạo Trong bối cảnh toàn cầu hoá và môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh, vòng đời của sản phẩm và công nghệ ngày càng trở nên ngắn hơn, ĐMST (innovation) giữ một vai trò trung tâm đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của từng quốc gia và địa phương. ĐMST là tiền đề tạo ra lợi thế cạnh tranh và có tính quyết định đối với sự tồn tại và phát triển không chỉ trong ngắn hạn mà còn mở đường cho tương lai lâu dài cho các doanh nghiệp, ĐMST giúp cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh với những đối thủ khác trên thị trường và bước chân vào những thị trường mới (Becheikh và cộng sự, 2006; Edison và cộng sự, 2013).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam" phân tích sâu về những yếu tố then chốt thúc đẩy hoặc cản trở quá trình đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Nội dung tập trung vào các khía cạnh như nguồn lực tài chính, năng lực nghiên cứu, chính sách hỗ trợ, và môi trường kinh doanh. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, và doanh nghiệp muốn nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua đổi mới sáng tạo.

Để hiểu rõ hơn về cơ chế tài chính trong nghiên cứu khoa học, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích cơ chế tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh. Nếu quan tâm đến chính sách khoa học và công nghệ, Luận văn thạc sĩ chính sách khoa học và công nghệ điều kiện phát triển thị trường công nghệ Hải Phòng giai đoạn 2010-2020 sẽ cung cấp thêm góc nhìn chi tiết. Đồng thời, để khám phá cách phát triển các khu công nghệ cao, Luận án tiến sĩ phát triển các khu công nghệ cao của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là tài liệu không thể bỏ qua.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và hiểu sâu hơn về các chủ đề liên quan đến khoa học, công nghệ, và đổi mới sáng tạo.