CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHỆ CAO CỦA HOA KỲ VÀ VIỆT NAM 1. Những nghiên cứu về khu công nghệ cao của Hoa Kỳ DeVol (1999) và Ki (2002) nhận định ngành công nghệ cao là động cơ quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Hoa Kỳ. Ki (2002) nghiên cứu sự hình thành của các trung tâm CNC ở Hoa Kỳ trong giai đoạn 1950 đến 1997 và các nhân tố địa điểm ảnh hưởng đến sự hình thành đó. Tác giả đã sử dụng phương pháp nhóm đối chứng thử nghiệm trên nhóm KCNC và nhóm tương tự (bao gồm các hạt của Hoa Kỳ với điều kiện kinh tế và giáo dục gần giống với nơi có KCNC).
Nghiên cứu chỉ ra rằng một số lượng đáng kể các KCNC được hình thành trong giai đoạn 1970-1980 tại Hoa Kỳ và các dịch vụ CNC đóng vai trò vai trò hàng đầu trong việc hình thành các KCNC trong giai đoạn này. Quan trọng hơn cả, nghiên cứu nhận định hầu hết các nhân tố vị trí thông thường không đóng vai trò trong việc xây dựng các KCNC trong giai đoạn 1970-1980 tại Hoa Kỳ, mà các KCNC thành lập một cách tự phát, không có hoạch định hoặc chính sách cụ thể trong thời kỳ hình thành. Link và Scott (2003) thực hiện nghiên cứu khám phá về KCNC ở Hoa Kỳ trong vai trò lan tỏa đổi mới và tác động đến nhiệm vụ học thuật của các trường đại học địa phương. Các phân tích thống kê cho thấy có mối quan hệ trực tiếp giữa sự gần gũi của KCNC với trường đại học và xác suất chương trình giảng dạy sẽ chuyển từ cơ bản sang nghiên cứu ứng dụng.
Link và Scott (2006) phát triển một mô hình để mô tả sự tăng trưởng hoặc năng suất của các KCNC và kiểm tra mô hình này bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu mới được xây dựng lúc bấy giờ của Quỹ Khoa học Quốc gia (National Scicence Foundation - NSF) về KCNC. Các tác giả nhận thấy rằng KCNC gần trường 7 đại học hơn, được điều hành bởi tổ chức tư nhân và tập trung vào công nghệ cụ thể - đặc biệt là ngành CNTT - phát triển nhanh hơn so với mức trung bình 8,4% mỗi năm. Link và Link (2003) mô tả và cung cấp phân loại cho KCNC ở Hoa Kỳ. Link và Scott (2007) cũng thực hiện một nghiên cứu về khía cạnh kinh tế học của KCNC.
Các tác giả trình bày bằng chứng quốc tế về sự phát triển của URP, xem xét các tài liệu học thuật về URP và vạch ra một chương trình nghị sự cho các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm bổ sung về chủ đề này. Link (2014) tập trung vào dòng chảy kiến thức từ các KCNC của Hoa Kỳ. Để đánh giá tác động một cách định lượng, tác giả so sánh các công ty nằm trong và ngoài KCNC theo cặp tương ứng, trên hai thể hiện là: bằng sáng chế nhận được và các ấn phẩm học thuật xuất phát từ nghiên cứu được thực hiện bởi các công ty. Nghiên cứu cho thấy rằng hiệu suất trung bình giữa các công ty trong KCNC cao hơn so với các công ty ngoài khu, từ đó, đưa ra gợi ý rằng môi trường do KCNC tạo ra mang lại lợi thế cạnh tranh dưới dạng các luồng kiến thức mới.
Sử dụng mô hình hồi quy, Xie Chen (2012) tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự phát triển của các KCNC ở Mỹ và Hoa Kỳ, với các cụm công nghiệp truyền thống đóng vai trò là nhóm đối chứng trong nghiên cứu. Kết quả của phân tích hồi quy cho thấy ở Mỹ, đầu tư mạo hiểm là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển các KCNC, trong khi ở Trung Quốc, yếu tố mạnh nhất là các viện hàn lâm và chính phủ. Vynck (2018) nghiên cứu mối quan hệ giữa vị trí của một KCNC và đầu ra đổi mới. Nghiên cứu xem xét các KCNC ở Hoa Kỳ một cách định lượng với tập dữ liệu theo chiều dọc bao gồm hơn 30 năm và phương pháp luận dựa trên OLS hồi quy tổng hợp cùng hai khung hiệu ứng cố định cho phép kiểm soát những đặc điểm biến đổi theo thời gian không thể quan sát được ở cấp độ của các nhà phát minh và công ty.
8 Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng số lượng bằng sáng chế có tương quan tích cực còn tính mới có tương quan tiêu cực với việc đặt địa điểm trong KCNC. Theo đó, lý thuyết cho rằng cơ chế tái tổ hợp và lan tỏa cho phép các công ty trong KCNC tạo ra nhiều bằng sáng chế mới lạ là không được hỗ trợ. Mối tương quan với các trích dẫn và đột phá được giải thích bởi hiệu quả của các nhà phát minh riêng lẻ và công ty. Hơn nữa, thực tế là các nhà phát minh với một vài đặc điểm nhất định tự lựa chọn (hoặc được chọn) làm việc trong một KCNC có ảnh hưởng quan trọng đến xác suất của tính mới.
Hobbs và cộng sự (2017) trình bày một mô hình tổng quát của KCNC ở Hoa Kỳ và xác định các đồng biến có thể đóng vai trò là các biến mục tiêu mà giúp duy trì sự phát triển của các KCNC hiện có và còn cung cấp thông tin cho những quốc gia, khu vực và trường đại học muốn thành lập KCNC mới. Các đồng biến bao gồm: khoảng cách giữa KCNC và trường đại học và việc liệu các KCNC có được thành lập trong cuộc cách mạng CNTT-TT (sau năm 2000). Hobbs và cộng sự (2018) tập trung vào các tác động kinh tế ở quy mô khu vực của các KCNC ở Hoa Kỳ. Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng chỉ có 11 trong số 146 KCNC ở Hoa Kỳ, trên tinh thần trách nhiệm giải trình cộng đồng, đã thực hiện nghiên cứu tác động kinh tế.
Một lý do giải thích cho sự thiếu hụt của các nghiên cứu như vậy là các trường đại học không quen thuộc về cách tiến hành cũng như cách giải thích các phát hiện từ một nghiên cứu như vậy. Các tác giã đã đưa ra một phương pháp đánh giá tác động kinh tế để các nhà quản lý KCNC tuân theo nếu họ tiến hành ghi chép tác động kinh tế khu vực của KCNC. Có những nghiên cứu tập trung vào các KCNC cụ thể, trong đó, phần lớn tập trung vào trường hợp của Thung lũng Silicon và KCNC Tam Giác. Ví dụ, Castells và Hall (1994) và Wonglimpiyarat (2010), mô tả KCNC ở Thung lũng Silicon của California và trên Route 128 gần Boston, Massachusetts.
9 Luger và Goldstein (1991), Link (1995, 2002), Link và Scott (2003a) nghiên cứu về KCNC Tam giác ở Bắc Carolina. Một số nghiên cứu liên quan đến các KCNC khác bao gồm: KCNC Austin (Gibson & Butler, 2013); KCNC Gateway tại trường Đại học Nông nghiệp và Kỹ thuật bang Bắc Carolina và Đại học Bắc Carolina ở Greensboro (Howard & Link, 2017). Một trong những nghiên cứu nổi bật về Thung lũng Silicon là Saxenian (1994). Saxenian (1994) so sánh sự tổ chức của các nền kinh tế khu vực, tập trung vào hệ thống dựa trên mạng lưới khu vực đang phát triển mạnh của Thung lũng Silicon và hệ thống dựa trên công ty độc lập đang suy giảm của Route 128.
Lịch sử của Thung lũng Silicon của California và Route 128 của Massachusetts trên cương vị những trung tâm đổi mới trong ngành điện tử được xem xét từ những năm 1970 để cho thấy cách tổ chức mạng lưới đã đóng góp vào khả năng thích ứng với cạnh tranh quốc tế như thế nào. Cả hai khu vực đều phải đối mặt với khủng hoảng vào những năm 1980, khi các máy tính nhỏ sản xuất ở Route 128 bị thay thế bằng máy tính cá nhân và các đối thủ cạnh tranh Nhật Bản đã chiếm thị trường bộ nhớ bán dẫn của Thung lũng Silicon. Tuy nhiên, trong khi các tập đoàn trong khu vực Route 128 hoạt động bằng nội bộ hóa, sử dụng các chính sách bí mật và sự trung thành với công ty để bảo vệ sự đổi mới, thì Thung lũng Silicon lại tận dụng tối đa giao tiếp theo chiều ngang và thị trường lao động mở bên cạnh các chính sách cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty. Kết quả là, mặc dù cạnh tranh ngày càng gay gắt, số việc làm mới ở Trung lũng Silicon đã tăng gấp ba trong giai đoạn 1975- 1990 và giá trị thị trường của các công ty tăng 25 tỷ đô la từ năm 1986 đến năm 1990 trong khi các công ty Route 128 chỉ tăng 1 tỷ đô la trong cùng khoảng thời gian.
Từ phân tích các khu vực này, có thể thấy đổi mới phải là một quá trình tập thể, sự thành công xuất hiện khi các rào cản thể chế và xã hội bị phá vỡ. 10 Một nền kinh tế khu vực phát triển mạnh không chỉ phụ thuộc vào sáng kiến của các cá nhân mà còn phụ thuộc vào mạng lưới liên kết các mối quan hệ xã hội, kỹ thuật và thương mại giữa các công ty và các tổ chức bên ngoài. Với thị trường ngày càng bị phân mảnh, sự phụ thuộc lẫn nhau trong khu vực dựa vào các mối quan hệ chính thức và không chính thức được làm mới liên tục, cũng như nguồn tài trợ công cho giáo dục, nghiên cứu và đào tạo. Các hệ thống công nghiệp địa phương được xây dựng trên mạng lưới khu vực có xu hướng linh hoạt và năng động hơn về mặt công nghệ so với các hệ thống phân cấp, dựa trên công ty độc lập, trong đó sự đổi mới bị cô lập trong ranh giới của các tập đoàn.
Theo Gibson và Butler (2013), chính quyền tiểu bang Texas đã thực thi chính sách miễn giảm thuế thu nhập cá nhân cho lao động nghiên cứu và phát triển (Research and Development - R&D) trình độ cao. Ở KCNC Austin, năm 1949, Đại học UT Austin đã thành lập trung tâm nghiên cứu của trường mang tên PRC. Đây là kết quả của sự hợp tác giữa chính phủ, ngành công nghiệp và các viện nghiên cứu & phát triển khoa học kỹ thuật. PRC là nơi đặt trụ sở của 19 trung tâm nghiên cứu trực thuộc UT Austin và tất cả đã được hưởng lợi từ nguồn tài trợ nghiên cứu của liên bang cũng như tiểu bang (Gibson & Butler, 2013).
Tài trợ của nhà nước cho các dự án phát triển CNC được coi là chìa khóa cho sự phát triển ở KCNC Austin. Những nghiên cứu về khu công nghệ cao của Việt Nam Vũ Đình Cự và Đỗ Trung Tá (1999) chia những đặc thù chính của KCNC thành hai phần: chức năng và tổ chức.