CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ NHÂN TRẮC HỌC HÌNH THÁI VÀ THỂ LỰC 1. Tầm quan trọng của thể lực Thể lực là năng lực vận động của con người, nó phản ánh mức độ phát triển của các cơ quan trong một cơ thể hoàn chỉnh thống nhất, có thể nói cách khác, thể lực là sức mạnh của con người để khắc phục lực đối kháng bên ngoài [12]. Sự phát triển thể lực là quá trình thay đổi hình dáng chức năng của cơ thể con người trong đời sống cá thể.
Bên cạnh đó, nó còn mang tính đặc thù về chủng tộc, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, những chỉ tiêu đặc biệt quan trọng để theo dõi đánh giá sự lớn lên là: cân nặng, chiều cao, vòng ngực. Các chỉ tiêu này phản ánh một cách trung thành đầy đủ và khách quan các yếu tố bên trong (di truyền) cũng như bên ngoài (điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện sống, chế độ dinh dưỡng.) ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể [13]. Và ngành học nghiên cứu các chỉ số kích thước cơ thể gọi là nhân trắc học hình thái.
Hiện nay dù có nhiều phương tiện thăm dò hiện đại, nhưng nhân trắc học vẫn là phương pháp không xâm lấn, đơn giản, ít tốn kém, được áp dụng phổ biến nhất trên toàn thế giới để đánh giá về tỷ lệ và thành phần cơ thể của con người [2]. Cụ thể, trong mối quan hệ giữa môi trường và sức khỏe, các thông số hình thái thể lực được coi là thước đo sức khỏe và khả năng lao động của con người. Chính vì vậy chúng được vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật, khám sức khỏe hay chẩn đoán lâm sàng một số bệnh liên quan đến thể lực. Tóm lại, hình thái thể lực là một trong những chỉ số quan trọng quyết định chất lượng dân số và sự phát triển xã hội.
Vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã luôn quan tâm đến công tác dân số con người, coi đó là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội. Nghị quyết của Bộ Chính trị số 47/NQ/TW, ngày 22 tháng 5 năm 2005 đã đưa ra mục tiêu “Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ, tinh thần, cơ cấu nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [14]. Theo mục 6, điều 3, Pháp lệnh dân số Việt Nam: “Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số” [15]. Như vậy, một trong ba đặc trưng của chất lượng dân số là thể chất (thể chất gồm nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có các số đo về chiều cao, cân nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bền, sự khéo léo.
dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi thọ, các yếu tố giống nòi, gen di truyền của người dân). Chú trọng và nâng cao thể chất sẽ là một trong những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng dân số. Sơ lược lịch sử nghiên cứu nhân trắc học trên thế giới Nhân trắc học là khoa học nghiên cứu các kích thước cơ thể con người. Nhân trắc học ra đời từ rất lâu, có thể nói là từ khi con người biết đo chiều cao và cân nặng của mình [1], [16]., công trình nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng con người là của Lampert C.
với luận án “Nguyên nhân giới hạn của sự phát triển cơ thể động vật” bảo vệ ngày 5 tháng 11 năm 1754 tại Đại học Y khoa ở Halle. Trong luận án này, Lampert C. đã đưa ra lý thuyết cho rằng sự tăng trưởng là do áp lực của các chất dịch trong mạch máu lớn hơn sức cản của các tổ chức sợi của cơ thể, đặc biệt là tổ chức xương. Vì vậy, cơ thể tăng trưởng hay căng ra (theo mọi chiều) và sự tăng trưởng chỉ ngừng lại khi có sự cân bằng áp lực.
Về mặt thực hành, ông đã mô tả một số kỹ thuật và mốc đo (như là chiều cao đứng, cân nặng, chiều dài của chi, vòng cánh tay, vòng ngực qua núm vú.) và sử dụng hệ đếm cơ số 12 thay vì hệ thập phân để cuối cùng tạo nên các bảng mô tả các kích thước nhân trắc theo tuổi và theo giới [17]. Tuy nhiên, công trình của Lampert C. không được biết đến trong một thời gian dài. Martin được xem là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại với tác phẩm “Giáo trình về nhân học”, trong đó ông đã đề xuất và hoàn chỉnh một hệ thống dụng cụ đo đạc, các phương pháp nghiên cứu trong nhân trắc học, đặc biệt là sự ứng dụng toán thống kê sinh học [4].
Kể từ đây, các nghiên cứu nhân trắc ngày càng phong phú, phát triển song song với lịch sử phát triển nhân chủng học. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu người ta chia ra: nhân trắc nhân chủng học - chuyên nghiên cứu hình thái các chủng tộc loài người; nhân trắc học đường - nghiên cứu thể lực và các tiêu chuẩn kiểm tra sức khoẻ học sinh; nhân trắc công nghiệp hay ergonomy phục vụ cho lĩnh vực thiết kế đồ dùng, dụng cụ và phương tiện sản xuất [1]. Trong đó, nhân trắc y học nghiên cứu sự phát triển cơ thể trẻ em theo từng lứa tuổi, phân loại tình trạng thể lực và dinh dưỡng, xác định các thay đổi hình thái do bệnh lý. Cụ thể, các chỉ số nhân trắc học có thể giúp xác định các nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm như bệnh đái tháo đường, bệnh tim mạch… hay theo dõi tình trạng dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai hoặc bệnh nhân béo phì [18], [19], [20].
Ngoài ra, phương pháp nhân trắc học có thể góp phần xác định sớm tình trạng suy giảm thể chất và nâng cao chất lượng cuộc sống [21]. Sơ lược lịch sử nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam Ở Việt Nam, nhân trắc học được quan tâm khá sớm, từ những năm 30 của thế kỷ XX, tại Viện Giải phẫu học Hà Nội và ban Nhân học thuộc Viện Viễn đông Bác cổ với những công trình của Đỗ Xuân Hợp, Bigot A. được công bố chủ yếu trong Nội san “Các công trình nghiên cứu của Viện Giải phẫu học, Đại học Y khoa Đông dương” từ 1936 đến 1944. Tuy nhiên, các công trình trong thời kỳ này vẫn còn ít nhiều hạn chế vì chưa vận dụng được toán học thống kê vào việc trình bày và nhận định kết quả, các dụng cụ nghiên cứu không được nói tới [22].
Nghiên cứu bị đứt đoạn qua 9 năm kháng chiến chống Pháp và bắt đầu khôi phục trở lại từ khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc năm 1954, do nhu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, các công tác điều tra cơ bản về y tế đã được đẩy mạnh, trong đó điều tra nhân trắc đã có những bước tiến đáng kể. Toán học thống kê đã được vận dụng để nhận định kết quả chính xác hơn. Nhiều nghiên cứu về hình thái thể lực trên nhiều đối tượng khác nhau đáng chú ý trong giai đoạn này có thể kể là: Hằng số hình thái nhân loại học của Đỗ Xuân Hợp và cộng sự (1967) [22]; Nghiên cứu một số kích thước hình thái và thể lực của học sinh phổ thông từ 7 đến 18 tuổi ở Thái Bình của Đinh Kỷ và cộng sự (1972) [23]; Nhận xét về chiều cao, vòng ngực, cân nặng của công nhân Hà nội của Lê Gia Khải và cộng sự (1969) [24]; Nghiên cứu về các chế độ đánh giá thể lực học sinh Việt Nam của Nguyễn Quang Quyền và cộng sự (1971) [25]. Các nghiên cứu thời kỳ này cho thấy người Việt Nam nói chung là thấp, bé, nhẹ cân và gầy hơn người nước ngoài, nhưng mặt khác vẫn đảm bảo được sức chịu đựng và dẻo dai, biểu hiện ở các thăm dò chức năng hô hấp, tuần hoàn rất bình thường [26].
Hai hội nghị toàn miền Bắc về hằng số sinh học ở người Việt Nam bình thường đã được triệu tập (1967 và 1972). Qua đó, hàng chục công trình về nhân trắc học đã được tổng kết trong tập “Hằng số sinh học người Việt Nam” năm 1975 [3]. Những kết quả nghiên cứu này được xem như là chuẩn mẫu tham khảo đầu tiên của người Việt Nam ở hai thập kỷ 60 và 70. Các nghiên cứu này đã xây dựng được một số thang phân loại các kích thước cơ thể và các chỉ số thể lực người Việt Nam trong giai đoạn đó; giúp ích cho việc kiểm tra và theo dõi sức khoẻ của học sinh trong quá trình học tập; đề ra tiêu chuẩn và kế hoạch tuyển quân; xây dựng chế độ sinh hoạt, luyện tập trong quân đội; trong thể dục thể thao các chỉ tiêu nhân trắc học là cơ sở lựa chọn các vận động viên thích hợp cho từng ngành để đạt thành tích tối đa [1], [25].
Sau ngày thống nhất đất nước, các nghiên cứu điều tra nhân trắc hình thái thể lực càng được tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thiện ở miền Bắc, bắt đầu mở rộng ra ở miền Trung và miền Nam. Phạm Văn Nguyện và cộng sự nghiên cứu trên các đối tượng sinh viên khu vực Huế (1985) đã nhận thấy so với hằng số sinh học người Việt Nam 1975, tầm vóc thể lực của nam sinh viên Huế tốt hơn, nhưng của nữ sinh viên Huế lại yếu hơn [27]. Từ cuối thập kỷ 70 và những năm đầu của thập kỷ 80, bên cạnh hướng nghiên cứu về hình thái, tầm vóc thể lực. Các nghiên cứu nhân trắc đã bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực nhân trắc dinh dưỡng, đặc biệt là những vấn đề về tỷ lệ các thành phần cấu tạo cơ thể (khối mỡ, khối nạc), bề dày các nếp da, diện tích da cơ thể.
Đó là các công trình: Các chỉ số thể lực với khối mỡ và khối nạc của công nhân sửa chữa ô tô (1976) của Trần Minh Nhỡn [28]. Tỷ trọng da và mỡ dưới da ở người Việt Nam (1976) của Lê Gia Vinh và cộng sự [29].