MỞ ĐẦU Dân tộc Ê Đê là một trong 54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam. Người Ê Đê nói tiếng Ê Đê, một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Malay – Polynesis thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền Trung Tây Nguyên. Trong văn hóa và nghệ thuật của người Ê Đê có thể thấy rõ nguồn gốc hải đảo của họ.
Người Ê Đê có lịch sử phát triển phức tạp, bị ảnh hưởng nhiều bởi các nhóm dân tộc khác nhau. Những giả thuyết về nguồn hải đảo của người Ê Đê chủ yếu dựa trên phân tích văn hóa, nghệ thuật thông qua sử thi và nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Do đó nghiên cứu về cấu trúc di truyền quần thể người Ê Đê tại Việt Nam là hết sức cần thiết, bởi chúng giúp bổ sung cho những giả thuyết về cội nguồn dân tộc Ê Đê. Ngoài ra, hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới chưa có bất kỳ một nghiên cứu chính thức nào về cấu trúc quần thể người Ê Đê.
Nghiên cứu này sẽ phân tích cấu trúc di truyền của quần thể người Ê Đê đồng thời đánh giá mối quan hệ di truyền với các quần thể cùng khu vực Đông Nam Á và cùng ngữ hệ Nam Đảo cũng như đánh giá tác động của yếu tố dòng họ và địa bàn cư trú đến cấu trúc di truyền quần thể người Ê Đê. Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 12 of 98. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Người Ê Đê ở Việt Nam 1.
Các dân tộc ở Việt Nam Dân tộc – tộc người là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc và tạo thành một quần thể sinh học. Việt Nam là ngôi nhà chung của 54 dân tộc anh em. Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hoá trong khu vực với 5 nhóm ngữ hệ và 8 nhóm ngôn ngữ [1]. - Ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic – AA) • Nhóm Việt - Mường : Chứt, Kinh, Mường, Thổ • Nhóm Môn – Khơme : Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmerer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng - Ngữ hệ Thái – Kadai (Tai–Kadai – TK) • Nhóm Tày – Thái : Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.
• Nhóm Kadai : Cờ LaoIsan, La Chí, La ha, Pu péo. - Ngữ hệ HMông – Dao (Hmong–Mien – HM) : Dao, Mông, Pà thẻn - Ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian-- AN) : Chăm, Chu-ru, Ê Đê, Gia-rai, Ra-glai. - Ngữ hệ Hán – Tạng (Sino-Tibetan – ST) • Ngôn ngữ Hán : Hoa, Ngái, Sán dìu. • Ngôn ngữ Tạng: Cống, Hà nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la.
- Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê Đê, Gia-rai, Ra-glai. Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 13 of 98. Bản đồ các dân tộc Việt Nam [1] Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 14 of 98. Người Ê Đê – lịch sử và văn hóa Văn hóa Người Ê Đê còn gọi là Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê).
Người Ê Đê nói tiếng Ê Đê, một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Malay – Polynesis thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2019 tại Việt Nam có dân số 398,671 người; trong đó 90.1% tổng số người Ê Đê tại Việt Nam sinh sống tại Đăk Lăk, số còn lại sinh sống tại các tỉnh Phú Yên, Đăk Nông [2]… Người Ê Đê thuộc nhóm người cư trú lâu đời nhất ở khu vực Đông Nam Á (nhóm Nam Đảo) với độ dày lịch sử, phong tục và văn hóa rất đặc trưng. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.
Con mang họ mẹ và người phụ nữ làm chủ trong hôn nhân. Người Ê Đê có kho tàng văn học truyền miệng rất phong phú, đặc biệt là các sử thi nổi tiếng mà cho đến nay vẫn còn đặt ra nhiều câu hỏi cho các nhà nghiên cứu văn hóa. Nhạc cụ, trang phục dân tộc, tục thờ cúng … có nhiều điểm tương đồng với các nhóm dân tộc ở các đảo của Philippines hay Indonesia. Ê Đê là một trong những tộc người bản địa ở Đăk Lăk, có nền văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc.
Người Ê Đê yêu ca hát, thích tấu nhạc và thường rất có năng khiếu về lĩnh vực này.Cồng chiêng, sáo, gôc, kni, đinh năm là các loại nhạc cụ phổ biến của người Ê Đê và được nhiều người yêu thích. Kiến trúc nhà dài nhiều gian độc đáo, vững chãi mang đậm tính mẫu hệ. Bộ luật tục hàng trăm điều, phản ánh những luật lệ nghiêm ngặt của cộng đồng thị tộc người Ê Đê cổ đại; với hệ thống nghi lễ dân gian như mừng lúa mới, cúng bến nước, cúng cầu mưa, cúng thần gió, rước hồn lúa, lễ đặt tên, thổi tai, lễ cưới, lễ bỏ mả, lễ rước kpan.Ấn tượng hơn cả là kể khan (hát kể), một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thu hút đông đảo dân làng tham gia, có ý nghĩa giáo dục truyền thống, bồi dưỡng nhân cách, ý chí kiên cường, tình yêu núi rừng, buôn làng của mọi thành viên trong cộng đồng. Tuy đã qua hàng thế kỷ với nhiều biến động lịch sử, nhưng ngày nay đồng bào Ê Đê vẫn còn giữ được những phong tục và hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang đậm bản sắc [3].
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 15 of 98. 5 Xã hội Êđê là xã hội mẫu hệ và mẫu quyền điển hình nhất ở Tây Nguyên. Mọi quy tắc ứng xử trong cộng đồng xã hội, trong gia đình đều tuân theo một hệ thống luật tục (klei bhiăn) được truyền từ đời này sang đời khác. Người Êđê có nhiều dòng họ nhưng phần lớn các họ đều xuất phát từ hai dòng họ gốc là Nie hoặc Mlo, từ đó phân ra nhiều dòng họ, chi họ nhánh.
Xã hội truyền thống của người Êđê mang tính chất tự quản cao. Trong tổ chức tự quản của tộc người này có sáu nhân vật đại diện : người đầu buôn, người giúp việc trực tiếp cho người đầu buôn, người xử kiện, người chăm lo công việc sản xuất, thầy thuốc và người trông coi về mặt quân sự[4, 5]. Ngôn ngữ Tiếng nói của người Ê Đê thuộc dòngngôn ngữ Malayo –Polynesia (ngữ hệ Nam Ðảo), có quan hệ gần gũi với tiếng J’rai, Chăm, Raglai, Churu, Malaysia, Indonêsia, Philippin. Ngôn ngữ Ê Đê là ngôn ngữ đơn lập, phát triển theo xu hướng đơn âm tiết.
Đây là kết quả của sự ảnh hưởng ngôn ngữ dòng Môn-Khmer. Do sự tiếp xúc với tiếng Việt -một ngôn ngữ Đơn tiết Điển hình cho nên quá trình Đơn tiết hóa ở tiếng Ê Đê diễn ra khá mạnh. Người Ê Đê tuy có chia thành các nhóm phương ngữ nhưng đến nay sự pha trộn giữa tiếng của nhóm người này với nhóm người kia diễn ra khá phổ biến do quá trình tiếp xúc văn hóa cộng cư với các nhóm khác và các tộc người khác [5]. Lịch sử Vào đầu Công nguyên, Chiêm Thành là một trong hai vương quốc của người Malayo - Polynesia lớn trên bán đảo Đông Dương.
Quốc gia này mang nhiều ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ với lãnh thổ nằm dọc theo các đồng bằng eo hẹp miền Trung đến chân dãy Trường Sơn về phía Tây. Sinh hoạt chính của người Malayo - Polynesia là trồng lúa nước và buôn bán. Để mở rộng nguồn hàng, người Malayo - Polynesia mở rộng tầm kiểm soát lên các vùng rừng núi đồng thời khuất phục luôn các nhóm dân cư bản địa đã có mặt từ trước, điển hình là nhóm Ê Đê Bih. Tên gọi Ê Đê được cho là xuất phát từ Rang Đê trong bia ký của người Champa.
Trong Bia Po Nagar tại tháp Po Nagar đã ghi chép về việc nhóm Rang Đê ở Ea Trang (Nha Trang) bị thu phục bởi vua Champa. Mặt khác, cuối thế kỷ VII, quân Java của Indonesia từ Biển Đông lại tràn vào Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 16 of 98. 6 đánh phá Ea ryu (Phú Yên) và Kauthara- Ea Trang (Khánh Hòa), khiến phần lớn dân Chiêm Thành phải chạy lên cao nguyên M'Đrak. Người Rang Đê được cho là tổ tiên của người Ê Đê và Jarai, đã được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Champa.
Cuộc Nam tiến của người Việt xuống đất Champa đã tạo ra làn sóng người Rang Đê di chuyển lên vùng bình nguyên Cheo Reo, dần dần tách ra thành dân tộc Jarai như hiện nay. Năm 1832, vương quốc Champa suy tàn, người Tây Nguyên sinh sống hoàn toàn độc lập, không trực thuộc bất kỳ chính quyền nào. Giai đoạn này họ gần như không có va chạm với bất kỳ nên văn hóa nào, kể cả người Kinh và Xiêm La. Tiếp đó, dưới sự cai trị của thực dân Pháp, Tây Nguyên trở thành lãnh thổ tự trị gọi là “Pays Montagnard du Sud Indochinois” (Xứ Thượng Miền Nam Đông Dương), viết tắt là PMSI.
Người Pháp hạn chế tối đa, nếu không muốn nói là cấm hẳn, mọi phong trào di dân của người Kinh vào lãnh thổ này. Người Kinh chủ yếu là nhân viên hành chánh và quân sự , chỉ tập trung quanh các thị trấn lớn như Đà Lạt, Buôn Ma Thuột. Tóm lại, giai đoạn 1832 đến 1954, cộng đồng người Tây Nguyên sống hoàn toàn biệt lập với người Kinh đồng bằng. Sau hiệp định Genve năm 1954, Xứ Thượng Miền Nam Đông Dương bị xóa bỏ.
chính quyền Ngô Đình Diệm đã đưa khoảng 700.