Nghiên cứu cải thiện tính trạng hạt thông qua chỉnh sửa gen gs3 bằng công nghệ CRISPR-Cas9

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu khả năng cải thiện tính trạng hạt thông qua chỉnh sửa gen gs3 bằng, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

60
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục tiêu của đề tài

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu về cây lúa

2.2. Vai trò của lúa gạo

2.3. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam năm 2020

2.4. Giá trị kinh tế

2.5. Giá trị dinh dưỡng

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Hóa chất thực hành

3.2. Thiết bị dụng cụ thực hành

3.3. Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm

3.4. Nội dung nghiên cứu

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.5.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.5.2. Phương pháp nghiên cứu chuyển cấu trúc CRISPR/Cas9-GS3 vào giống lúa Dongjin

3.5.3. Phương pháp nghiên cứu chọn lọc dòng đột biến bằng kĩ thuật PCR

3.5.4. Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng lúa

3.5.5. Các phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kết quả nghiên cứu chuyển cấu trúc CRISPR/Cas9-GS3 vào giống lúa Dongjin

4.1.1. Chuyển gen CRISPR/Cas9 có chứa các trình tự định hướng trên cây lúa japonica Dongjin thông qua vi khuẩn Agrobacterium

4.1.2. Tái sinh và chọn lọc các dòng lúa chuyển gen T0

4.2. Kết quả nghiên cứu chọn lọc dòng đột biến bằng kĩ thuật PCR

4.2.1. Kết quả tách chiết DNA tổng số

4.2.2. Kết quả sàng lọc cây chuyển gen bằng PCR

4.2.3. Kết quả chọn lọc chuyển gen bằng PCR

4.3. Xác định trình tự đột biến của gen GS3 trên cây lúa

4.4. Kết quả đánh giá đặc điểm hình thái các cây chỉnh sửa gen

4.4.1. Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng cây T0

4.4.2. Đặc điểm chiều cao cây, số nhánh/cây

4.4.3. Các yếu tố cấu thành năng suất

4.4.4. Kích thước hạt của các dòng lúa đột biến

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc cải thiện tính trạng hạt thông qua chỉnh sửa gen GS3 bằng công nghệ CRISPR-Cas9. Tính trạng kích thước và số lượng hạt là yếu tố quyết định đến năng suất cây trồng. Việc chỉnh sửa gen GS3 có thể giúp tăng kích thước hạt, từ đó nâng cao năng suất lúa. Công nghệ CRISPR-Cas9 cho phép thực hiện các thay đổi chính xác trong gen, mở ra cơ hội mới cho việc cải thiện giống cây trồng. Theo nghiên cứu, gen GS3 có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh kích thước hạt, và việc chỉnh sửa gen này có thể mang lại những lợi ích lớn cho ngành nông nghiệp.

1.1. Tầm quan trọng của cây lúa

Cây lúa là nguồn lương thực chính cho khoảng 2/3 dân số thế giới. Việc cải thiện cây trồng thông qua công nghệ sinh học, đặc biệt là chỉnh sửa gen, có thể giúp tăng năng suất và chất lượng lúa. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao, giúp đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dân số gia tăng.

II. Công nghệ CRISPR Cas9

Công nghệ CRISPR-Cas9 là một trong những công nghệ tiên tiến nhất trong lĩnh vực công nghệ di truyền. Nó cho phép các nhà khoa học thực hiện biến đổi gen một cách chính xác và hiệu quả. Công nghệ này sử dụng một hệ thống tự nhiên của vi khuẩn để cắt và chỉnh sửa DNA. Việc áp dụng CRISPR-Cas9 trong nghiên cứu này giúp tạo ra các giống lúa có kích thước hạt lớn hơn, từ đó nâng cao năng suất. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc chỉnh sửa gen GS3 có thể làm tăng kích thước hạt lên đáng kể, điều này có thể mang lại lợi ích kinh tế lớn cho nông dân.

2.1. Quy trình chỉnh sửa gen

Quy trình chỉnh sửa gen GS3 bằng công nghệ CRISPR-Cas9 bao gồm việc thiết kế gRNA để nhắm đến vị trí cụ thể trên gen GS3. Sau đó, gRNA sẽ dẫn Cas9 đến vị trí này để thực hiện cắt DNA. Sau khi cắt, tế bào sẽ tự sửa chữa, dẫn đến việc tạo ra các biến thể gen mới. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp PCR để xác định sự thành công của việc chuyển gen và đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các dòng lúa chỉnh sửa gen.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc chỉnh sửa gen GS3 đã thành công trong việc tạo ra các dòng lúa có kích thước hạt lớn hơn. Các dòng lúa này không chỉ có kích thước hạt lớn mà còn có khả năng chống chịu tốt hơn với các điều kiện môi trường khắc nghiệt. Việc cải thiện chất lượng hạt thông qua chỉnh sửa gen không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn cải thiện giá trị thị trường của sản phẩm. Điều này có thể tạo ra lợi ích kinh tế lớn cho nông dân và góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

3.1. Đánh giá đặc điểm nông sinh học

Đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các dòng lúa chỉnh sửa gen cho thấy sự cải thiện rõ rệt về chiều cao cây, số nhánh/cây và kích thước hạt. Các chỉ tiêu này đều cho thấy sự vượt trội so với giống đối chứng. Điều này chứng tỏ rằng công nghệ CRISPR-Cas9 có thể được áp dụng hiệu quả trong việc cải thiện cây trồng, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao trong việc cải thiện cây trồng. Việc ứng dụng công nghệ CRISPR-Cas9 trong chỉnh sửa gen GS3 có thể giúp tạo ra các giống lúa mới với năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn. Điều này sẽ góp phần vào việc đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng dân số. Hơn nữa, nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững.

4.1. Tương lai của nghiên cứu

Tương lai của nghiên cứu này rất hứa hẹn. Việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển các giống lúa chỉnh sửa gen sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng lúa gạo. Công nghệ CRISPR-Cas9 sẽ tiếp tục được cải tiến và ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành nông nghiệp Việt Nam và thế giới.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Tính trạng kích thước và số lượng hạt là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất cây trồng. Kích thước hạt giống là mục tiêu của chọn lọc nhân tạo trong quá trình thuần hóa, nơi các hạt có kích thước lớn thường được ưa chuộng do dễ thu hoạch và tăng cường sức sống của cây. Ở lúa, các đặc điểm liên quan đến kích thước và trọng lượng hạt có tác động lớn đến giá trị thị trường lúa gạo và đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu, tạo chọn giống mới. Nghiên cứu tạo cây lúa tăng kích thước hạt được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới và mang lại hiệu quả cao trong công tác chọn tạo giống.

Bằng các kỹ thuật sinh học phân tử nhiều gen liên quan đến khả năng tăng kích thước hạt đã được sàng lọc và phân tích trên cây trồng như GW2 , GS9 , GW5 ,GS3 và TGW6 [16-20]. GS3 (Grain size gene) là một gen quy định chiều dài ở hạt có mặt trong các cây họ lúa. GS3 bao gồm bốn vùng chức năng khác nhau tham gia vào quá trình điều chỉnh kích thước hạt bao gồm: vùng điều chỉnh kích thước cơ quan (ORS), vùng xuyên màng, vùng thụ cảm/ vùng thụ thể yếu tố tăng trưởng (TNFR / NGFR) và vùng yếu tố von Willebrand loại C (VWFC). Việc mất hoặc ảnh hưởng chức năng của miền OSR dẫn đến hạt dài, trong khi việc thay đổi cấu trúc của miền TNFR / NGFR và VWFC tạo ra tác dụng ngược lại [24].

Ở nước ta lúa nước là cây lương thực chính được trồng với diện tích lớn tuy nhiên hiện nay với sự gia tăng dân số, giảm diện tích đất canh tác, ô nhiễm môi trường và thời tiết khắc nghiệt thường xuyên xảy ra, sản xuất lúa gạo đang phải đối mặt với những thách thức gay gắt ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và xuất khẩu, trong khi gạo đang là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. Trong bối cảnh khí hậu toàn cầu đang biến đổi theo hướng bất lợi như hiện nay, sản xuất nông nghiệp được xem là một trong những lĩnh vực dễ bị tổn thương nhất từ đó đặt ra những thách thức không nhỏ cho nền nông nghiệp trong tương lai. Để phục vụ công tác chọn tạo giống cây trồng tăng năng suất, chất lượng có khả năng chống chịu với sự biến đổi khí hậu, việc ứng dụng các kỹ thuật hiện đại như công nghệ gen là rất cần thiết. Vì vậy, xuất Luan van 2 phát từ nhu cầu thực tiễn chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng cải thiện tính trạng hạt thông qua chỉnh sửa gen GS3 bằng công nghệ chỉnh sửa hệ gen CRISPR/Cas9”.

Mục tiêu của đề tài 1.Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu khả năng tăng kích thước hạt lúa thông qua chỉnh sửa gen GS3. Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu chuyển cấu trúc chỉnh sửa gen GS3 vào giống lúa Dongjin. - Sàng lọc được cây đột biến thế hệ T0. - Đánh giá một số tính trạng hình thái hạt của cây đột biến thế hệ T0.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.Ý nghĩa khoa học của đề tài - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại những kiến thức đã học.

- Giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học, phương pháp xử lý phân tích số liệu và cách trình bày một bài báo khoa học. - Nghiên cứu chuyển cấu trúc gen Cas9-gRNA1 vào giống lúa Dongjin thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. - Chọn lọc gen chuyển bằng kĩ thuật PCR và đánh giá các chỉ tiêu nông học của dòng T0. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Nghiên cứu nâng cao năng suất lúa bằng kỹ thuật chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về cây lúa 2. Vai trò của lúa gạo Lúa gạo là cây lương thực lâu đời nhất được trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới cùng với ngô, lúa mì , sắn và khoai tây.

Diện tích gieo trồng của cây lúa đứng thứ hai sau lúa mì, tổng sản lượng lúa gạo đứng thứ ba sau lúa mì và ngô. Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng cho khoảng 2/3 dân số trên thế giới, vì thế lúa gạo đã trở thành loại lương thực được con người tiêu thụ và ưa chuộng nhiều nhất. Khoảng 40% dân số trên thế giới lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính. Trên thế giới có hơn 110 quốc gia có sản xuất và tiêu thụ gạo với các mức độ khác nhau.

Lượng lúa được sản xuất ra và mức tiêu thụ gạo cao tập trung ở khu vực Châu Á. Hiện nay, diện tích trồng lúa chiếm trên 1/10 diện tích đất trồng trên thế giới và có 15 nước trên thế giới trồng lúa với diện tích hơn hơn 1 triệu ha, trong đó có tới 13 nước ở Châu Á. Riêng Trung Quốc và Ấn Độ chiếm khoảng 50% diện tích trồng lúa và 56% sản lượng lúa toàn cầu [4]. Lúa gạo chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, không chỉ là nguồn lương thực mà còn là nguồn thu ngoại tệ cho sự phát triển của đất nước.

Điều này chỉ rõ vị trí của lúa gạo trong cơ cấu lương thực thế giới và trong đời sống kinh tế quốc tế. Việt Nam là một trong những nước có nghề truyền thống trồng lúa nước cổ xưa nhất thế giới với hơn 70% diện tích đất trên cả nước. Nông nghiệp trồng lúa vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, vừa là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước. Dân số nước ta đến nay hơn 90 triệu người, trong đó dân số ở nông thôn chiếm gần 80% và lực lượng lao động trong nghề trồng lúa chiếm khoảng 70% lực lượng lao động cả nước.

Điều đó cho thấy lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa nước thu hút đại đa số lực lượng lao động cả nước, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, ưu thế lớn của nghề trồng lúa còn thể hiện rõ ở diện tích canh tác trong tổng diện tích đất nông nghiệp cũng như tổng diện tích trồng cây lương thực. Ngành trồng trọt chiếm 4/5 diện tích đất canh tác trong khi đó diện tích trồng lúa giữ vị trí độc tôn, chiếm gần 85% diện tích lương thực. Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tính chung cả năm 2019 cả nước xuất khẩu 6,37 triệu tấn gạo, tương đương 2,81 tỷ Luan van 4 USD, tăng 4,1% về lượng nhưng giảm 8,4% về kim ngạch so với năm 2018.

Giá xuất khẩu đạt 440,7 USD/tấn, giảm 12,1%. Kết quả báo cáo tổng kết 7 tháng đầu năm 2020, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,9 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,9 tỉ USD, tăng 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước [9]. Đặc biệt là giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng cao, vượt Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam năm 2020 Diện tích gieo trồng lúa mùa cả nước năm 2020 đạt 1.584,6 nghìn ha, bằng 98,3% vụ mùa năm 2019.

Trong đó, các địa phương phía Bắc gieo cấy 1.050,2 nghìn ha, bằng 98,1%, riêng các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng gieo cấy đạt 484,4 nghìn ha, bằng 97,4%; các địa phương phía Nam gieo cấy 534,4 nghìn ha, bằng 98,8%. Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và do ảnh hưởng bởi các đợt nắng nóng kéo dài, thiếu nước tưới hoặc đất bị nhiễm mặn nên diện tích gieo cấy lúa mùa 2020 giảm nhiều. Một số địa phương có diện tích lúa mùa giảm nhiều là: Ninh Thuận giảm 2,9 nghìn ha; Thanh Hóa giảm 4,7 nghìn ha; Hà Nội giảm 2,4 nghìn ha; Hải Phòng giảm 2,7 nghìn ha; Hưng Yên giảm 1,9 nghìn ha;…kéo theo sản lượng chung toàn vụ giảm. Mặc dù thời tiết đầu vụ không thuận lợi nhưng trong quá trình cây lúa sinh trưởng và phát triển, điều kiện thời tiết khá thuận lợi nên cây lúa đẻ nhánh nhanh và đồng đều, các loại sâu bệnh xuất hiện nhưng được phòng trừ kịp thời nên năng suất tăng so với vụ mùa năm trước [8].

Số liệu thống kê này phản ánh trong điều kiện hiện nay, an ninh lương thực nước ta được giữ vững, không những đảm bảo cho nhu cầu sử dụng trong nước mà còn tham gia đảm bảo an ninh lương thực trên phạm vi toàn cầu. Giá trị kinh tế Trên thế giới cơ cấu sản xuất lương thực, lúa gạo chiếm 26,5%. Sản lượng lúa đã vượt lên đứng thứ nhất trong các cây lương thực với tổng sản lượng là 650 triệu tấn/năm. Mặc dù diện tích trồng lúa gạo đứng sau lúa mì nhưng sản lượng lúa năm 1993 đã đứng vị trí thứ nhất với tổng sản lượng là 573 triệu tấn/năm.

Đặc biệt trong những năm gần đây với sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong công tác chọn tạo giống và canh tác, phân bón thì năng suất và chất lượng lúa gạo không ngừng tăng lên [4]. Luan van 5 Hình 2. Sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm 2011-2020 [9]. Năm 2020, mặc dù năng suất và sản lượng giảm so với năm 2019 nhưng do chất lượng gạo được cải thiện nên đã thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo, giá trị xuất khẩu ngày càng được cải thiện, tạo nên sức lan toả mạnh mẽ của “hương vị” gạo Việt Nam trên thị trường hàng nông sản thế giới đưa Việt Nam trở lại vị số một về xuất khẩu gạo.

Lúa không chỉ được mùa ở các mùa vụ mà còn được giá, đánh dấu sự chuyển mình của sản xuất lúa gạo, hiệu quả sản xuất tăng lên đáng kể. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, hầu hết các mặt hàng nông sản xuất khẩu bị ảnh hưởng, tuy nhiên xuất khẩu gạo của Việt Nam giữ được đà tăng trưởng về sản lượng, quan trọng hơn là giá xuất khẩu đạt mức cao. Riêng tháng 8/2020, giá trung bình đạt 502,6 USD/tấn, tăng 3,8% so với tháng 7/2020 [2]. Luan van 6 Hình 2.

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam [9]. Một trong những điểm nhấn đáng lưu ý nhất là mức giá xuất khẩu gạo Việt sang thị trường EU đã chạm tới con số kỷ lục hơn 1.000 USD/tấn sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) có hiệu lực. Chỉ trong 10 tháng năm 2020, Việt Nam đã xuất khẩu được gần 5,3 triệu tấn gạo (đạt hơn 80% kế hoạch xuất khẩu gạo năm 2020 là đạt từ 6,5 đến 6,7 triệu tấn gạo), tương đương với kim ngạch đạt 2,6 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2019. Chất lượng gạo cũng được tăng lên, loại gạo 5% tấm của Việt Nam đã có lúc vượt giá gạo Thái Lan, vươn lên dẫn đầu thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu cải thiện tính trạng hạt thông qua chỉnh sửa gen gs3 bằng công nghệ CRISPR-Cas9" của tác giả Trương Thanh Tùng, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng tại Đại học Thái Nguyên, trình bày về việc ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR-Cas9 để cải thiện tính trạng hạt của cây trồng. Nghiên cứu này không chỉ mở ra hướng đi mới trong việc nâng cao năng suất và chất lượng nông sản mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững trong nông nghiệp. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về công nghệ sinh học hiện đại và tiềm năng ứng dụng của nó trong sản xuất nông nghiệp.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến công nghệ sinh học, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận văn về ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng đến sự phát triển của nấm đông trùng hạ thảo cordyceps militaris", nơi khám phá ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự phát triển của nấm, một lĩnh vực cũng liên quan đến công nghệ sinh học. Bài viết "Nghiên cứu phương pháp multiplex PCR để phát hiện thành phần biến đổi gen trong sản phẩm đậu nành và bắp" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về các phương pháp phát hiện gen biến đổi, một chủ đề liên quan mật thiết đến nghiên cứu chỉnh sửa gen. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu khả năng kháng nấm gây bệnh trên thực vật của tinh dầu tràm Melaleuca alternifolia" sẽ giúp bạn hiểu thêm về ứng dụng của các hợp chất tự nhiên trong việc bảo vệ cây trồng, một khía cạnh quan trọng trong nông nghiệp hiện đại.