Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu LCBS ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình phức tạp và sinh cảnh tự nhiên đa dạng nên khu hệ động vật có tính đa dạng cao [88]. Đây là nơi giao lưu, hội tụ của các luồng thực vật, động vật từ In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi- a ở phía Nam lên, Ấn Độ, Hi-ma-lay-a, Mi-an-ma, Hoa Nam từ phía Bắc xuống, là một trong 16 nước có tiềm năng đa dạng sinh học cao của Châu Á và là một trong 34 điểm nóng về đa dạng sinh học của thế giới [9].Từ thế kỷ XX đến nay, số lượng loài LCBS ghi nhận ở Việt Nam ngày càng tăng, việc nghiên cứu về LCBS đã được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Theo thời gian, vấn đề này ngày càng được quan tâm nhiều hơn và mở rộng ra nhiều vùng khác nhau với nhiều hướng mới.
Các công trình nghiên cứu về LCBS ở Việt Nam đã được công bố bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX. Từ năm 1933 đến 1944,Bourret đã viết 4 cuốn chuyên khảo về LCBS Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia), gồm Les Serpents de l’Indochine (Tome I, II) (1936) mô tả 105 loài rắn ở miền Bắc Việt Nam, Les Tortues de l’Indochine (1941) mô tả 17 loài và phân loài rùa ở miền Bắc Việt Nam, Les Batraciens de l’Indochine (1942) mô tả 59 loài và phân loài LC vàLes Lézards de l'Indochine (được xuất bản chính thức năm 2009) mô tả 177 loài và phân loài thằn lằn [30]. Đây được coi là những tài liệu đầy đủ nhất về LCBS ở giai đoạn trước 1954 của Đông Dương. Địa điểm khảo sát trong các nghiên cứu của ông tập trung ở miền Nam, trong khi vùng Đông Bắc chủ yếu ở các khu nghỉ mát (Mẫu Sơn, Tam Đảo.), các khu đồn trú của lính Pháp (Ngân Sơn.
Các nghiên cứu LCBS ngay sau đó bị đình trệ khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở Việt Nam. 4 Năm 1962, Đào Văn Tiến đã có những ghi nhận đầu tiên về loài trăn đất (Python molurus) và ba ba gai (Palea steindachneri) ở Đình Cả (Võ Nhai, Thái Nguyên)[12]. Tiếp theo đó là các đợt khảo sát và thu mẫu của Nguyễn Văn Sáng (1967), Nguyễn Quốc Thắng (1968), Đỗ Tước (1969), Kim Ngọc Sơn (1970), và một số chuyến hướng dẫn thực địa sinh viên của trường ĐH Tổng hợp Hà Nội Theo Trần Kiên (1981), xác định tổng cộng 34 loài LC và 74 loài BS ở Bắc Thái cũ (nay gồm Thái Nguyên và Bắc Kạn)[12]. Từ năm 1977 đến 1982, Đào Văn Tiến đã liên tiếp công bố 5 bài báo tổng hợp và xây dựng khóa định loại cho 87 loài LC(1977) [45], 32 loài rùa và 2 loài cá sấu (1978) [46], 77 loài thằn lằn (1979) [47], 165 loài rắn (1981 [48],1982[49]) ở Việt Nam.
Khóa định loại này đã góp phần đáng kể vào việc xác định tên loài LCBS sau đó. Cuối thế kỷ XX, một loạt những công bố của các nhà khoa học đã thống kê và bổ sung rất nhiều loài mới cho danh lục LCBS Việt Nam. Trước tiên phải kể đến công bố về thành phần loài rắn ở miền Bắc Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng và đtg (1981). Đến năm 1995, Lê Nguyên Ngật và đtg đã thống kê có 32 loài ếch nhái ở rừng Tam Đảo [16].
Năm 1998, Lathrop và đtg mô tả loài mới phát hiện ở Tam Đảo(Lepolalax sungi) và ở Tuyên Quang (Leptolalax nahangensis) [68]. Tiếp theo đó, Nguyễn Văn Sáng (2000) đã thống kê được: Ở vùng núi Yên Tử (Bắc Giang) có 19 loài LC và 36 loài BS trong đó có 3 loài LC và 2 loài BS đặc hữu Việt Nam, 2 loài LC và 12 loài BS quý hiếm [37]; ở Hữu Liên (Lạng Sơn) có 20 loài LC và 28 loài BS [36]. Hồ Thu Cúc và đtg (2000) [6] mô tả một vài đặc điểm hình thái, tập tính và phân bố của 10 loài Rhacophorus trong đó có các loài ở vùng Đông Bắc: Rhacophorus calcaneus, Rhacophorus rainwardtii. Sang thế kỷ XXI, việc nghiên cứu về LCBS đã được mở rộng ra tại nhiều khu vực, những công bố và ghi nhận về các loài mới của các tác giả trong và ngoài nước đã nâng tổng số loài LCBS tại Việt Nam lên khá nhiều.
5 Năm 2001, Hồ Thu Cúc và đtg đã tái phát hiện, bổ sung khu phân bố và mô tả một số loài của giống Ếch cây sần Theloderma: T. asperumở Tam Đảo, đổi tên Rhacophorus leprosus corticalis từng phát hiện ở Mẫu Sơn (Lạng Sơn) thành T. corticalephát hiện lại ở núi Tam Đảo [7]. Năm 2004, Lê Nguyên Ngật và đtg đã công bố thành phần loài ở Hồ Núi Cốc gồm 18 loài LC, 44 loài BS trong đó có 13 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2000, 3 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2000 [18].
Cũng trong năm này, Đặng Huy Phương và đtg (2004) đã thống kê ở khu vực núi Tây Côn Lĩnh(Hà Giang) có 33 loài LC, 18 loài BS [34]. Sau đó, Bain và đtg(2004) đã công bố36 loài LC, 16 loài BS, bổ sung cho nghiên cứu của Đặng Huy Phương tại Hà Giang, trong đó có mô tả 2 loài mới Rana iriodes và Rana tabaca, ghi nhận vùng phân bố mới của 8 loài và 7 phân loài [59]. Trong thời điểm đó, Phạm Nhật và đtg cũng đã thống kê được 69 loài ở Ba Bể- Na Hang (dự án PARC) [32], đồng thời Lê Trọng Trải và đtg cũng đã thống kê được 34 loài LCBS tại khu vực Bản Thi, Xuân Lạc- Chợ Đồn (Bắc Kạn) [50]. Từ năm 2005 đến 2009, liên tiếp những ghi nhận mới của nhiều tác giả được công bố tại nhiều KVNC, như: Lê Nguyên Ngật và đtg (2005) đã ghi nhận có 22 loài LC, 49 loài BS, xác định được 22 loài quý hiếm, đồng thời xác định 31 loài ở khu vực Thần Sa- Phượng Hoàng, bổ sung 16 loài cho danh sách LCBS ở Thái Nguyên, tổng kết danh sách này có 80 loài [19].
Năm 2007, Lê Nguyên Ngật và đtg thống kê được ở 3 huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Sơn Dương (Tuyên Quang) có 97 loài LCBS (gồm 43 loài LC thuộc 8 họ, 3 bộ và 54 loài BS thuộc 14 họ, 2 bộ) với 22 loài quý hiếm; và đã bổ sung 48 loài so với danh lục 2005 [21]; thống kê ở Hà Giang có 86 loài (gồm 49 loài LC, 37 loài BS), bổ sung 8 loài LC, 23 loài BS cho Hà Giang so với danh lục 2005 [22]. Năm 2008, tác giả này tiếp tục bổ sung ghi nhận khu phân bố của thằn lằn cá sấu Shinisaurus crocodilusus ở vùng núi Tây Yên Tử- Sơn Động (Bắc Giang) [25]; thống kê ở KBTTN Xuân Nha có 25 loài LC và 48 loài BS, trong đó 6 ghi nhận bổ sung cho khu hệ LCBS tỉnh Sơn La 71 loài [24]. Đến năm 2009, Lê Nguyên Ngật và đtg đã tổng kết được số loài LCBS ở vùng Đông Bắc là 278 loài (chiếm 51,01% số loài LCBS ở Việt Nam), trong đó có 109 loài LC thuộc 36 giống, 10 họ, 3 bộ và 169 loài BS thuộc 86 giống, 22 họ, 3 bộ. Vùng Đông Bắc có đủ 6 bộ LCBS và đặc biệt có đủ 5 loài thuộc bộ LC Có đuôi (Urodela) của Việt Nam [26].
Năm 2011, Lê Nguyên Ngật và đtg đã tổng hợp và lập danh sách các loài LCBS ở 4 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình, đã thống kê được 59 loài LC và 98 loài BS [27]. Cùng thời gian đó, Böhme và đtg (2005) đã mô tả một loài cá cóc mới cho khoa học Tylototritonvietnamensis ở vùng đất thấp Lục Nam (Bắc Giang), Cao Bằng, Nghệ An [62].Cũng tại Bắc Giang, Trần Thanh Tùng và đtg (2006) thống kê ở vùng núi Yên Tửcó 101 loài LCBS (41 loài LC, 60 loài BS) [54]; sau đó tác giả này đã lần lượt đưa ra các danh sách loài LCBS khác nhau ở khu vực núi Yên Tử theo các năm: 2007 với 123 loài, kèm sự phân bố theo sinh cảnh và độ cao [23]; 2008 với 133 loài, trong đó có 37 loài đặc hữu và quý hiếm [55]. Tiếp đến là những công bố mới của Nguyễn Quảng Trường và đtg đã ghi nhận 67 loài LCBS (trong đó có 35 loài LC thuộc 7 họ, 2 bộ và 32 loài BS thuộc 10 họ, 2 bộ), bổ sung 4 loài LC, 6 loài BS so với trước đó; trong đó có 15 loài LC và BS quý hiếm ở Hà Giang, ghi nhận một số loài hiếm gặp như: Paramesotriton deloustali ở Đá Đin (huyện Xín Mần), Tylototriton asperrimus, Bombina microdeladigitora, Amolops chapaensis, Rhacophorus hoanglienensis và Ophisaurus harti ở Tây Côn Lĩnh (2006) [52]; ghi nhận vùng phân bố mới cho loài Ateuchosaurus chinensis ở Vị Xuyên (Hà Giang) (2008) [71];Orlov và đtgphát hiện và mô tả loài mới cho khoa học Goniurosaurus huulienensis ở Lạng Sơn (2008) [82]. Cuối năm 2009, Đặng Huy Phương đã xác định ở Hà Giang có 73 loài LCBS, trong đó có 41 loài LC và 32 loài BS [35].
7 Tại khu vực Thái Nguyên, Lê Xuân Cảnh và đtg (2007) xác định có 47 loài (gồm 17 loài LC và 30 loài BS), trong đó 1 loài LC, 14 loài BS quý hiếm và đề xuất các khu bảo vệ cấp quốc gia ở Định Hóa và Võ Nhai [3]. Cùng năm đó, ở Bắc Kạn, Trương Văn Lã và đtg bước đầu đã thống kê được 244 loài động vật rừng bao gồm 47 loài thú, 186 loài chim, 25 loài BS và 16 loài LC tại khu vực Tam Tao - Chợ Đồn (Bắc Kạn) [13]; tại tỉnh Lai Châu, Orlov và đtg (2007) mô tả 2 loài mới ở huyện Tam Đường: Amolops splendissimus và A. Ở Phú Thọ, Trần Minh Hợi và đtg (2008) đã đưa ra danh lục LCBS ở VQG Xuân Sơn (Phú Thọ) gồm 27 loài LC và 44 loài BS (theo Nguyễn Lân Hùng Sơn, 2013 [43]); trong công trình của Nguyễn Văn Sáng (2009) cập nhật cho VQG này có 29 loài LC (8 họ, 3 bộ) và 48 loài BS (14 họ, 2 bộ) [41]. Trong năm 2009, Hoàng Văn Ngọc và đtg đã bổ sung Na Hang (Tuyên Quang) vào khu phân bố của thằn lằn tốt mã bốn vạch Plestiodon quadrilineatus và Vị Xuyên (Hà Giang) vào khu phân bố của thằn lằn tốt mã tam đảo Plestiodon tamdaoensis [29]; ghi nhận vùng phân bố mới của thạch sùng đuôi dẹp Hemidactylus garnotii ở Hà Giang, Tuyên Quang và Chợ Đồn (Bắc Kạn) [28].
Đỗ Thành Trung và Lê Nguyên Ngật (2009) đã nghiên cứu khu hệ LCBS của huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên từ năm 2007 đến 2008 và thống kê được 16 loài LC và 23 loài BS [51]. Orlov và đtg (2009) đã ghi nhận sự phân bố loài Protobothrops trungkhanhensis, mẫu thu ở KBTTN Trùng Khánh (Cao Bằng)[83].