Nghiên cứu thành phần loài mò Trombiculidae và tình hình bệnh sốt mò ở tỉnh Yên Bái năm 2016-2017

Nghiên cứu thành phần loài mò acaria trombiculidae và tình hình bệnh nhân sốt mò tại Yên Bái năm 2016-2017. Thông tin chi tiết và phân tích.

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

66
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số đặc điểm hình thái phân loại mò

1.2. Một số đặc điểm sinh học của mò

1.3. Liên quan giữa mò, vật chủ, phương thức truyền bệnh sốt mò

1.4. Tình hình nghiên cứu về mò và bệnh sốt mò trên thế giới

1.4.1. Nghiên cứu về mò (Trombiculidae) trên thế giới

1.4.2. Nghiên cứu về bệnh sốt mò trên thế giới

1.5. Tình hình nghiên cứu về mò và bệnh sốt mò ở Việt Nam

1.5.1. Nghiên cứu về mò (Trombiculidae) ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thu thập mò ký sinh trên chuột, gia cầm và trên giá thể

2.3.2. Thu thập mò ký sinh trên động vật nuôi. Thu thập mò tự do ngoài thiên nhiên

2.3.3. Định loại mò, chuột

2.3.4. Điều tra bệnh nhân sốt mò

2.4. Tính các chỉ số của mò, vật chủ và xử lý số liệu

2.4.1. Tính các chỉ số của mò, vật chủ

2.4.2. Phương pháp tính mức độ gần gũi về thành phần loài mò

2.4.3. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Thành phần loài và phân bố của mò tại các điểm nghiên cứu

3.2. So sánh thành phần loài mò tại 4 điểm nghiên cứu với các khu vực lân cận

3.3. Đặc điểm các loài mò có vai trò truyền bệnh sốt mò tại các điểm điều tra

3.3.1. Loài Ascoschoengastia (Laurentella) indica

3.3.2. Loài Leptotrombidium (Leptotrombidium) deliense

3.3.3. Loài Eutrombicula hirsti

3.3.4. Loài Eutrombicula wichmanni

3.4. Xây dựng khóa định loại mò cho khu vực nghiên cứu

3.5. Thành phần loài, phân bố vật chủ của mò và tình hình nhiễm mò của vật chủ

3.6. Thành phần loài, phân bố vật chủ, giá thể của mò tại các điểm điều tra

3.7. Tỷ lệ nhiễm mò của các loài chuột tại các điểm điều tra

3.8. Phân bố của chuột theo sinh cảnh tại điểm điều tra

3.9. Tỷ lệ vật chủ, giá thể nhiễm mò tại các điểm điều tra năm 2016 -2017

3.10. Phân bố của các loài mò theo vật chủ

3.11. Tình hình bệnh nhân sốt mò tại bốn xã

3.12. Phân bố bệnh sốt mò theo giới tính, độ tuổi và nghề nghiệp

3.12.1. Phân bố bệnh nhân sốt mò theo giới tính

3.12.2. Phân bố bệnh nhân sốt mò theo độ tuổi

3.12.3. Phân bố bệnh nhân sốt mò theo nghề nghiệp

3.13. Một số yếu tố liên quan đến bệnh sốt mò tại các điểm nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu thành phần loài mò Trombiculidae ở Yên Bái

Nghiên cứu về thành phần loài mò Trombiculidae và tình hình bệnh sốt mò ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn 2016-2017 đã chỉ ra sự gia tăng đáng kể của bệnh sốt mò. Bệnh này do vi khuẩn Orientia tsutsugamushi gây ra, lây truyền qua vết đốt của ấu trùng mò. Mò Trombiculidae là một trong những loài ký sinh quan trọng, có khả năng truyền bệnh cho con người. Việc nghiên cứu thành phần loài mò không chỉ giúp hiểu rõ hơn về dịch tễ học mà còn hỗ trợ trong việc kiểm soát và phòng ngừa bệnh sốt mò.

1.1. Đặc điểm hình thái và phân loại loài mò Trombiculidae

Họ Trombiculidae thuộc bộ ve bét (Acarina) có khoảng 3.000 loài, trong đó hơn 45 loài có khả năng đốt người. Mò có kích thước nhỏ, thường không quá 1mm, và có màu sắc từ vàng đến da cam. Đặc điểm hình thái của ấu trùng mò rất đa dạng, với các cấu trúc như lông cảm giác và gai cảm giác giúp chúng thích nghi với môi trường sống.

1.2. Tình hình bệnh sốt mò ở Yên Bái trong giai đoạn 2016 2017

Bệnh sốt mò đã xuất hiện trở lại tại Yên Bái với số lượng bệnh nhân gia tăng đáng kể. Từ năm 2014 đến 2017, số ca mắc bệnh tăng lên gấp đôi, với nhiều trường hợp nặng và tử vong. Việc theo dõi và nghiên cứu tình hình bệnh sốt mò là cần thiết để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu bệnh sốt mò

Mặc dù bệnh sốt mò đã được nghiên cứu nhiều, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định chính xác các loài mò và mối liên hệ của chúng với bệnh nhân. Sự thiếu hụt dữ liệu về thành phần loài và sự phân bố của chúng tại các khu vực khác nhau là một trong những vấn đề lớn. Ngoài ra, việc phát hiện và điều trị bệnh sốt mò cũng gặp khó khăn do triệu chứng không điển hình.

2.1. Khó khăn trong việc xác định loài mò và vật chủ

Việc phân loại và xác định các loài mò Trombiculidae gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng và sự tương đồng giữa các loài. Nghiên cứu cần sử dụng các phương pháp hiện đại như phân tích gen để xác định chính xác các loài và mối quan hệ của chúng với vật chủ.

2.2. Thách thức trong việc điều trị và phòng ngừa bệnh sốt mò

Hiện tại, chưa có vắc xin đặc hiệu cho bệnh sốt mò, và việc điều trị chủ yếu dựa vào kháng sinh. Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt là trong bối cảnh bệnh có xu hướng gia tăng.

III. Phương pháp nghiên cứu thành phần loài mò và bệnh sốt mò

Nghiên cứu thành phần loài mò và tình hình bệnh sốt mò được thực hiện thông qua các phương pháp thu thập mẫu, điều tra dịch tễ học và phân tích số liệu. Các mẫu mò được thu thập từ nhiều địa điểm khác nhau, bao gồm cả môi trường tự nhiên và vật chủ như chuột và gia cầm. Phân tích số liệu giúp xác định tỷ lệ nhiễm và phân bố của các loài mò.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu mò và vật chủ

Mẫu mò được thu thập từ các khu vực có nguy cơ cao, bao gồm các bìa rừng, ruộng bỏ hoang và các khu vực có nhiều động vật gặm nhấm. Việc thu thập mẫu cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo tính đại diện và chính xác.

3.2. Phân tích số liệu và đánh giá tình hình bệnh sốt mò

Số liệu thu thập được sẽ được phân tích để xác định tỷ lệ nhiễm mò trên các loài vật chủ và tình hình bệnh nhân sốt mò. Việc đánh giá này giúp đưa ra các khuyến nghị về phòng ngừa và kiểm soát bệnh hiệu quả.

IV. Kết quả nghiên cứu về thành phần loài mò và tình hình bệnh sốt mò

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng về thành phần loài mò Trombiculidae tại Yên Bái, với nhiều loài có khả năng truyền bệnh sốt mò. Tỷ lệ nhiễm mò trên các loài vật chủ cũng cho thấy sự liên quan chặt chẽ giữa mò và bệnh nhân sốt mò. Các kết quả này cung cấp thông tin quan trọng cho việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa.

4.1. Thành phần loài mò và phân bố tại các điểm nghiên cứu

Nghiên cứu đã xác định được nhiều loài mò khác nhau tại các điểm nghiên cứu, trong đó có các loài chính như Leptotrombidium deliense và Eutrombicula hirsti. Sự phân bố của các loài này cho thấy mối liên hệ với các yếu tố môi trường và vật chủ.

4.2. Tình hình bệnh nhân sốt mò và mối liên hệ với loài mò

Tình hình bệnh nhân sốt mò tại Yên Bái cho thấy sự gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Các nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm mò trên các loài vật chủ có liên quan trực tiếp đến số lượng bệnh nhân mắc bệnh sốt mò.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về thành phần loài mò Trombiculidae và tình hình bệnh sốt mò ở Yên Bái đã cung cấp những thông tin quý giá cho việc hiểu rõ hơn về dịch tễ học của bệnh. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để xác định rõ hơn về mối quan hệ giữa các loài mò và bệnh nhân. Việc phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả là cần thiết để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh sốt mò trong cộng đồng.

5.1. Đề xuất các biện pháp phòng ngừa bệnh sốt mò

Cần triển khai các biện pháp phòng ngừa như giáo dục cộng đồng về nguy cơ mắc bệnh sốt mò, sử dụng thuốc diệt côn trùng và kiểm soát môi trường sống của mò. Việc này sẽ giúp giảm thiểu sự lây lan của bệnh trong cộng đồng.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng để xác định rõ hơn về các loài mò và mối quan hệ của chúng với bệnh nhân. Việc áp dụng công nghệ mới trong nghiên cứu sẽ giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh sốt mò.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu thành phần loài mò acaria trombiculidae vật chủ tại một số xã và tình hình bệnh nhân sốt mò ở tỉnh yên bái năm 2016 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Bệnh sốt mò hay bệnh tsutsugamushi là một bệnh lan truyền bởi động vật chân đốt. Bệnh sốt mò khó phân biệt với các bệnh khác ở giai đoạn cấp tính bệnh đe dọa đến tính mạng con ngƣời. Bệnh lây truyền sang ngƣời qua vết đốt của mò thuộc giống Leptotrombidium và tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Orientia tsutsugamushi (hay Rickettsia tsutsugamushi) Bệnh sốt mò phổ biến trong chiến tranh thế giới thứ II và giờ đây là một bệnh quan trọng đối với du khách đến các vùng dịch [48]. Vùng dịch tễ của bệnh này phân bố chủ yếu ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng.

Hiện nay hơn một nửa dân số thế giới sống ở vùng sốt mò, trong đó hơn một tỷ ngƣời có nguy cơ mắc bệnh, khoảng một triệu ngƣời mắc mới hàng năm [43, 60]. Bệnh sốt mò thƣờng xuất hiện theo mùa, phụ thuộc vào thời điểm xuất hiện của mò do con ngƣời bị nhiễm qua vết đốt của ấu trùng mò. Bệnh sốt mò phát triển về mùa hè và những tháng mƣa có độ ẩm cao là thời gian chỉ số mò cao. Mò vừa là vật chứa mầm bệnh vừa là véc tơ của Orientia tsutsugamushi, động vật gặm nhấm là vật chủ chủ yếu của mò.

Mò đốt động vật gặm nhấm dễ lan truyền Orientia hơn các động vật khác [33]. Trong tự nhiên có khoảng 45 loài mò mang tác nhân truyền bệnh (Orientia tsutsugamushi), nhƣng chỉ có các loài thuộc giống Leptotrombidium là véc tơ truyền bệnh sốt mò [32, 40, 44]. Các loài véc tơ phân bố theo các vùng dịch tễ khác nhau. Hiện chƣa có vắc xin đặc hiệu phòng bệnh sốt mò.

Thuốc kháng sinh hiện nay có tác dụng điều trị là Chloramphenicol, Tetracyclin, Doxycyclin. Họ mò Trombiculidae là một trong những họ lớn nhất của bộ ve bét (Acarina) gồm khoảng 3.000 loài, trong đó hơn 45 loài có khả năng đốt ngƣời. Sinh cảnh của mò thƣờng là những nơi có cây bụi thấp, hoặc thảm thực vật chuyển tiếp, bao gồm bìa rừng, bờ sông suối, khoảng đất trống trong rừng sau khi khai thác cây to để cỏ mọc thứ phát, ruộng bỏ hoang, các cánh đồng lúa và các khoảng đất vƣờn ven các đô thị lớn [13, 28, 34, 46, 49]. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, từ năm 1980 đến 2000 bệnh sốt mò hầu nhƣ lắng xuống, nhƣng những năm gần đây bệnh có xu hƣớng gia tăng ở một số địa phƣơng nhƣ Quảng Ninh, Khánh Hòa, Kon Tum [14, 16].

Chỉ tính từ năm 2001 đến 2003 tại bệnh viện Y học Lâm sàng các bệnh Nhiệt đới có tới 255 bệnh nhân bị mắc sốt mò từ 24 tỉnh và thành phố của miền Bắc vào điều trị [13]. Bệnh xuất hiện quanh năm nhƣng chủ yếu về mùa mƣa từ tháng 4 tháng 5 đến tháng 9 tháng 10, đỉnh cao vào các tháng 6 tháng 7. Tại tỉnh Yên Bái vào những năm 1971 bệnh sốt mò đã xuất hiện, huyện Văn Chấn (trƣớc đây thuộc tỉnh Nghĩa Lộ). Bệnh nhân khu trú trong phạm vi một xã, sau đó bệnh đã lắng xuống trong suốt hơn 40 năm qua.

Nhƣng đến năm 2014 bệnh đã quay trở lại trên diện rộng với 31 xã phƣờng thuộc 4 huyện thị với 136 bệnh nhân, số bệnh nhân điều trị nội trú chiếm 68% trong đó, bệnh nhân nặng chiếm 0,03% [15]. Đến năm 2015, theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Yên Bái bệnh sốt mò tiếp tục bùng phát trên địa bàn tỉnh với 261 bệnh nhân sốt mò tại 60 xã thuộc 06 huyện tăng gần gấp đôi so với năm 2014, trong đó xác định 04 trƣờng hợp tử vong do sốt mò, chiếm 1,5%. Mặc dù bệnh sốt mò tại địa phƣơng xảy ra nghiêm trọng, nhƣng chƣa có nhiều nghiên cứu sâu về véc tơ và bệnh sốt mò ở đây. Trƣớc tình hình bệnh sốt mò diễn biến phức tạp những năm gần đây tại tỉnh Yên Bái nên chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu thành phần loài mò (Acaria: Trombiculidae), vật chủ của mò tại một số xã và tình hình bệnh nhân sốt mò ở tỉnh Yên Bái năm 2016 – 2017” Mục tiêu: 1.

Xác định thành phần loài mò và vật chủ của mò tại một số điểm nghiên cứu. Đánh giá tình hình bệnh nhân sốt mò tại tỉnh Yên Bái năm 2016 – 2017. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm hình thái phân loại mò Họ Mò Trombiculidae thuộc bộ ve bét (Acarina), lớp hình nhện (Arachnida), ngành chân đốt (Arthropoda).

Mò có kích thƣớc bé không quá 1mm, màu sắc từ vàng đến da cam nên còn gọi là mò đỏ [6]. Đặc điểm hình thái bên ngoài của ấu trùng mò (Hình 1. Hình thái ấu trùng Leptotrombidium (Leptotrombidium) deliense (Walch, 1922) (nguồn: Nadchatram et Dohanyi, 1974) 1. Lông bên gần mút bàn (parasubterminala); 6.

Lông gần mút bàn (subterminala); 7. Gai cảm giác bàn chân ( microtasala); 9. Gai cảm giác cẳng chân (spine tibiala); 10. Gậy cảm giác đốt cẳng chân (tibiala); 11.

Gậy cảm giác đốt gối (genuala); 12. Gai cảm giác đốt gối (micritiala); 13. Đốt gốc đùi (basifemur); 15. Đốt ngọn đùi (telofemur); 16.

Đốt cẳng chân (tibia); 18. Lông trƣớc mút bàn (pretarsala); 20. Hàng lông lƣng thứ nhất “1st ” (Dorsala I); 23. Hàng lông lƣng thứ hai “ 2 st‟‟ (Dorsala II); 24.

Lỗ hậu môn (anus); 28. Gốc chân III (coxa); 30. Lông gốc chân ba ( coxal seta III); 31. Gốc chân II ( coxa II); 33.

3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số đặc điểm sinh học của mò Vòng đời của mò phát triển qua 4 giai đoạn trứng, ấu trùng, thanh trùng và trƣởng thành. Mò trƣởng thành sống trong đất xốp, ẩm. Mò cái đẻ trứng trên bề mặt các lớp đất xốp, ấu trùng nở ra từ trứng bò lên cây cỏ hoặc tán cây bụi, một số nấp trong các khe kẽ hoặc hang chuột để bám vào động vật chủ.

Sau khi đốt động vật, ấu trùng mò rơi xuống đất phát triển thành thanh trùng. Thanh trùng phát triển thành mò trƣởng thành. Thời gian sống của mò trƣởng thành có thể kéo dài 15 tháng hoặc lâu hơn. Chu kỳ sinh trƣởng của mò kéo dài 2 tháng đến 3 tháng ở những vùng có khí hậu ấm và có thể kéo dài 8 tháng ở những vùng khí hậu lạnh [3, 46, 50].

Ấu trùng mò ký sinh trên các động vật có xƣơng sống, chủ yếu là chuột và các thú nhỏ khác trong bộ gặm nhấm, có thể đốt ngƣời (ngƣời là vật chủ vô tình của ấu trùng mò). Thời gian đốt động vật của ấu trùng mò kéo dài 48 giờ đến 72 giờ (có thể lâu hơn ở một số loài). Khi đốt động vật chúng thƣờng tập trung thành từng đám vài trăm cá thể thƣờng ở những nơi kín nhƣ tai và vùng hậu môn – sinh dục của động vật. Những yếu tố này góp phần hình thành nên các “điểm nóng” lây truyền mò đƣợc mô tả trong các nghiên cứu khác [46, 50] (Hình 1.

Vòng đời phát triển của mò Trombiculidae (nguồn: TV. Rao, 2012) 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Liên quan giữa mò, vật chủ, phƣơng thức truyền bệnh sốt mò Bệnh sốt mò lây truyền từ vật chủ này qua vật chủ khác nhờ vật trung gian là ấu trùng mò. Ấu trùng mò mang mầm bệnh và truyền sang vật chủ khác.

Ấu trùng mò có thể truyền mầm bệnh qua 3 đến 4 thế hệ sau. Các mầm bệnh này đƣợc lan truyền từ động vật gặm nhấm (chủ yếu từ chuột) sang ngƣời và không truyền bệnh từ ngƣời sang ngƣời [5]. Vi khuẩn Orientia tsutsugamushi tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển của mò từ trứng, ấu trùng đến mò trƣởng thành, nhƣng chỉ giai đoạn ấu trùng mới ký sinh truyền bệnh cho ngƣời. Giai đoạn trƣởng thành mò sống tự do nên khó thu thập.

Do vậy, việc điều tra nghiên cứu về mò chủ yếu thu thập đƣợc ấu trùng sống ký sinh trên các loài động vật. Ấu trùng mò chỉ hút máu một lần trong đời. Ấu trùng mò thƣờng bám vào thân cây, ngọn cỏ hoặc ngay cả mặt đất và khi con ngƣời hay động vật đi qua chúng bám vào để hút máu và truyền vi khuẩn Orientia tsutsugamushi cho ngƣời gây ra bệnh sốt mò. Tình hình nghiên cứu về mò và bệnh sốt mò trên thế giới 1.

Nghiên cứu về mò (Trombiculidae) trên thế giới Năm 1960, Vercammen Grandjean đã xuất bản khóa định loại bằng hình vẽ bản phân loại hơn 100 giống và phân giống thuộc họ Trombiculidae. Vào thời điểm đó đã biết khoảng 1.200 loài mò trên thế giới. Năm 1966, Brennan và Yunker đã xây dựng khóa định loại cho 29 giống mò ở Panama. Năm 1974 Nadchatram và Dohany xây dựng khóa phân loại cho 50 giống và phân giống của họ Trombiculidae vùng Đông Nam Á.

Các tác giả cho biết khoảng 1900 loài thuộc họ này đã đƣợc công bố trên thế giới; khu vực Châu Á khoảng 600 loài, trong đó vùng Đông Nam Á 350 loài chủ yếu đƣợc phát hiện ở bán đảo Malaysia và Thái Lan (khoảng 250 loài) [45]. Năm 1977, Brennam và Goff đã xuất bản khóa định loại 87 giống vùng Tây bán cầu, kèm theo hình vẽ và thuật ngữ phân loại, đồng thời thông báo hơn 3000 loài mò đã đƣợc phát hiện trên thế giới, trong số đó dƣới 10 % biết đến các giai đoạn sau ấu trùng [28]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công trình nghiên cứu của Takeo Tamiya (1962) về sốt mò ở Nhật Bản khá toàn diện đề cập nhiều khía cạnh về sốt mò và mò. Tác giả cho biết, từ năm 1951 đến năm 1960 điều tra 1.022 điểm và một số điểm theo dõi hàng tháng hoặc vài tuần trong năm đã thu thập đƣợc 6036 mẫu thú trong đó có 5807 mẫu gặm nhấm phân lập đƣợc Orientia.

Trong nghiên cứu này dùng chuột để bẫy mò và dùng đĩa hát để bắt mò, đã thu đƣợc 30.000 mẫu mò dùng để phân lập Orientia, chuột đƣợc dùng để thử nghiệm gây nhiễm Orientia nhằm chứng minh vai trò dịch tễ từng loài chuột. Đã phát hiện hơn 500 chủng Orientia gây bệnh ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ Nhật Bản và đã phát hiện đƣợc 73 loài mò, xác định đƣợc 2 loài gây bệnh: loài Orientia tsutsugamushi gây bệnh vào mùa hè và loài Orientia shichito-nestu gây bệnh vào mùa đông. Mùa bệnh trùng với mùa phát triển của các loài mò truyền bệnh. Các loài mò truyền bệnh thuộc giống Leptotrombidium và phân giống Neotrombicula gồm: Leptotrombidium (Leptotrombidium) akamushi, Leptotrombidium (Leptotrombidium) palilida, Leptotrombidium (Leptotrombidium) suctellare, Leptotrombidium (Leptotrombidium) palpalis, Neotrombicula fuji, Neotrombicula jiponica, Neotrombicula myiaimai, Neotrombicula saduskyi, Neotrombicula tamiyai (Asanuma et al, 1962) [55].

Cho đến nay nhiều nƣớc vùng Đông Nam Á – Thái Bình Dƣơng, đã có những công trình nghiên cứu về khu hệ mò và xây dựng khóa định loại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ