CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về Ngũ vị tử thu tại vùng núi Ngọc Linh 1. Thực vật học 1. Vị trí phân loại Ngũ vị tử thu hái tại Ngọc Linh, Việt Nam có tên khoa học là Schisandra sphenanthera Rehd., thuộc chi Ngũ vị tử (Schisandra), họ Ngũ vị (Schisandraceae), bộ Hồi (Illiciales), phân lớp Hoàng liên (Rancunulidae), lớp Hai lá mầm (Dicotyledones), ngành Hạt kín (Angiospermae).
Ở Việt Nam, Ngũ vị tử chủ yếu phân bố ở vùng núi Ngọc Linh, thuộc tỉnh Kon Tum và Quảng Nam. Ngũ Vị Tử thu tại núi Ngọc linh, Việt Nam có tên khoa học là Schisandra sphenanthera Rehder & E.Wilson, cây phân bố ở độ cao 1.600 m, tập trung nhiều ở những vùng có sinh thái là rừng cây bụi, rừng thứ sinh và rừng thông. Ở Kon Tum, Ngũ vị tử phân bố ở các huyện Ngọc Lây, Đak tô, Tu-mơ-rông, Konplông. Ở Quảng nam phân bố chủ yếu ở nam Trà My.
Một số hình ảnh Ngũ vị tử thu tại vùng núi Ngọc Linh (A - Quả chưa chín; B: Hoa; C: Quả chín) 1. Đặc điểm thực vật Ngũ vị tử Ngọc Linh (Schisandra sphenanthera Rehd.) là loại cây thân leo gỗ, dài 3 – 5 m rụng lá vào mùa khô (tháng 10-11). Toàn cây không lông, rất ít gặp trên gân, mặt dưới lá non có lông nhỏ mềm thưa thớt. Khi cây đâm chồi (tháng 2) vẩy chồi có lông mềm.
Cành nhỏ có mầu hồng cánh gián. Thân cành có nốt sần, cành non hơi có cạnh. Lá mọc so le, hình trứng đảo, rộng hơn về phía cuối lá, gốc 7 hình nêm, đỉnh nhọn, kích thước lá trung bình dài 5-11 cm, rộng 3-7 cm. Mặt trên lá xanh đậm, mặt dưới lá nhạt mầu hơn.
Mép lá có răng cưa thô về phía cuối lá. Lá có gân hình lông chim. Cuống lá mầu hồng nhạt, dài 2-3 cm. Gân lá 4-5 đôi, lồi ở mặt dưới, hơi lõm ở mặt trên.
Hoa đơn tính, khác gốc, tràng có 6-9 cánh, màu vàng trắng, có mùi thơm, nhị 5. Hoa mọc ở nách lá, cuống dài 2-4 cm, gốc có phiến bao (vẩy) dài 3-4 mm. Cánh hoa 5-9 màu cam, hình trứng đảo dạng tròn dài, kích thước 6-12 x 5- 8 mm. Hoa đực nhị nhiều, hợp thành bó hình trứng đảo, đường kính 4-5mm.
Đế hoa lồi hình trụ tròn, nhị nhiều, ô phấn hướng nội, 2 ô. Hoa cái có 30-60 tâm bì tập hợp thành bó hình cầu dạng trứng, đường kính 5cm. Trục đế hoa tập hợp quả dài 6-17 cm, đường kính 4mm, cuống quả dài 5-10cm. Quả mọng khi chín có mầu hồng sau đỏ sẫm, hình cầu dạng trứng, đường kính 5-7 mm.
Hạt tròn màu vàng, hình thận 8 dài 4 mm, rộng 3,8 mm, rốn hạt hình chữ V, vỏ hạt lưng có vân sần sùi [1-3]. Phân bố Cây Schisandra phân bố khắp nơi trên thế giới, nhưng ở Trung Quốc là phong phú nhất. Tổng cộng, có 25 loại cây ngũ vị tử với 19 loại phân bố trên khắp Trung Quốc từ đông bắc đến tây nam, và 6 loại khác nằm ở đông nam Mỹ và các nước châu Á khác [1]. Ở Việt Nam Schisandra sphenanthera là loài mới được phát hiện và được phân bố chủ yếu ở vùng núi Ngọc Linh thuộc địa phận hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.
Thành phần hóa học Ngũ vị tử có chứa tinh dầu mùi chanh, trong đó thành phần tinh dầu gồm 30% secquiterpen, 20% aldehyd và aceton. Quả chứa 11% acid citric, 7% acid malic và 0,8% acid tartric, vitamin C và chừng 0,12% schisandrin (C22H32O7), thịt quả chứa 1,5% đường, tanin, chất màu, hạt chứa khoảng 34% chất béo. Thành phần chính của Ngũ vị tử là các dẫn chất lignan [4-6] được phân loại thành 5 nhóm bao gồm lignan dibenzocyclooctadiene (loại A) (1-16), lignan spirobenzofuranoid dibenzocyclooctadiene (loại B), lignan 4-aryltetralin (loại C) (17), lignan 2,3- dimethyl-1,4-diarylbutane (loại D) (18-20), và lignan 2,5- diaryltetrahydrofuran (loại E) (21-23) [6]. Hàm lượng của nhóm lignan này trong quả Ngũ vị tử dao động từ 7,2- 19,2% [4, 5].
8 Có 3 triterpen được phân lập từ quả của S. sphenanthera bao gồm acid schizandronic (acid ganwuweizic) (24), acid anwuweizic (25) và schisanol (26) [6]. Ngoài ra, vào năm 2019, Nguyen Thi Mai và các cộng sự đã phân lập được 6 hợp chất nortriterpenoid (27-32) và 5 lignan (33-37) [8]. Ben = benzoyl : Ang = angeloyl : Tig = Tigloyl : Hợp R1 R2 R3 R4 R5 R6 R7 R8 R9 chất 6 CH3 CH3 -CH2- OTig CH3 OH CH3 H 9 CH3 CH3 -CH2- OBen CH3 OH CH3 H 10 CH3 CH3 -CH2- OTig CH3 OH CH3 H 12 -CH2- -CH2- OBen CH3 OH CH3 H Hợp Chất R1 R2 R3 R4 R5 R6 R7 14 CH3 CH3 CH3 CH3 CH3 CH3 H 15 CH3 CH3 CH3 H CH3 CH3 H Hình 1.
Cấu trúc của lignan dibenzocyclooctadien từ Schisandra sphenanthera. 9 Thứ tự R1 R2 R3 R4 R5 19 OCH3O H H OH Thứ tự R1 R2 R3 R4 21 -CH2- H CH3 22 -CH2- -CH2- 23 CH3 CH3 CH3 CH3 Hình 1. Cấu trúc của 5 lignan khác từ S. Cấu trúc của 3 triterpene trong quả của S.
Cấu trúc hóa học của 6 nortriterpenoid và 5 lignan được phân lập từ S. Các hợp chất được phân lập từ Schisandra sphenanthera Thứ tự Hợp chất Nguồn tham khảo Các hợp chất nhóm lignan 1 Gomisin U [14] 2 Benzoylgomisin U [15] 3 Epigomisin O [15, 16] 4 Tigloylgomisin P [17, 18] 5 Angeloylgomisin P [17, 18] 6 Benzoylgomisin Q [13] 7 Schisantherin A (gomisin C, wuweizi ester A) [17, 19] 8 Schisantherin B (gomisin B, wuweizi ester B) [17, 19] 9 Schisantherin C [20] 10 Schisantherin D [20, 21] 11 Schisantherin E [20] 12 Deoxyschizandrin (wuweizisu A, schisandrin A, [6] deoxyschisandrin) 13 Schisanhenol ((+)-gomisin K3) [17, 22] 14 Isoschizandrin [15] 15 Schisandrone [6] 16 dl-Anwulignan [6] 17 (+)-Anwulignan [6] 18 Sphenanlignan [6] 19 Chicanine [6] 20 d-Epigalbacine [6] 21 Ganschisandrine [6] Các hợp chất nhóm triterpene 22 Acid schizandronic (acid ganwuweizic) [6] 23 Acid anwuweizic [6] 24 Schisanol [6] 12 1. Tác dụng và công dụng trong y học cổ truyền Tính vị, công năng: Ngũ vị tử có vị chua chát, tính ấm, quy kinh phế và thận có tác dụng liễm phế chỉ ho, sáp tinh, ích thận, thu mồ hôi, sinh tân dịch [4, 23]. Công dụng: Ngũ vị tử được dùng trị phế hư, ho tực ngực, suyễn, miệng khô, khát nước, mỏi mệt, thận hư, liệt dương, di tinh, mồ hôi trộm, tả lỵ lâu ngày, đái dầm.
Mỗi lần uống 2-4g, ngày 3 lần dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột. Thường phối hợp với các vị thuốc khác [4, 23]. Ngoài ra trong Y học cổ truyền Trung Quốc, Ngũ vị tử dùng để bồi bổ, hồi phục sức khỏe, trị lỵ, lậu, cảm lạnh, say nóng, viêm phế quản, hen phế quản, chữa ho, liệt dương [4, 5]. Một số bài thuốc có chứa Ngũ vị tử: + Chữa tỳ thận dương hư di tả: Ngũ vị tử 6g; phá cố chỉ 12g; nhục đậu khấu; ngô thù du mỗi vị 4g.
Các vị tán nhỏ, luyện thành viên hoàn với đại táo và sinh khương. Mỗi lần uống 10g, ngày một lần [4]. + Chữa suy nhược cơ thể do phế khí hư: Ngũ vị tử 10g; thục địa; tử uyển; tang bạch bì mỗi vị 12g; đảng sâm; hoàng kì mỗi vị 10g. Sắc uống ngày một thang [7].
+ Chữa hen suyễn ở người già: Ngũ vị tử 10g; mạch môn 16g; sa sâm; ngưu tất mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang [4]. + Hỗ trợ điều trị nhồi máu cơ tim: Ngũ vị tử; nhân sâm; mạch môn mỗi vị 8g; cam thảo 6g. + Chữa thiếu máu: Ngũ vị tử 10g; đảng sâm 16g; phục linh; hoàng kì; thục địa; bạch thược; đại táo mỗi vị 12g; đương quy; viễn chí mỗi vị 10g; bạch truật 8g; quế tâm; cam thảo; trần bì mỗi vị 6g; gừng 2g.
Sắc uống ngày 1 thang [4]. + Chữa chóng mặt ù tai, hay quên: Ngũ vị tử 8g, toan táo nhân, long nhãn, hoài sơn mỗi vị 12g; đương quy 8g. Sắc uống ngày 1 thang [4]. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học 1.
Tác dụng bảo vệ gan Nhiều nghiên cứu đã chứng minh polysaccharid từ các loài thuộc chi Schisandra trong đó có S. sphenanthera có tác dụng bảo vệ gan [1, 24]. Ngũ vị tử có tác dụng bảo vệ gan trong thử nghiệm gây độc tế bào in vitro với Carbontetraclorid (CCl4) và D-galactosamin. Gomisin A là một lignan được phân lập 13 từ quả Ngũ vị tử, có tác dụng ức chế sự tăng hoạt độ AST (Aspartate aminotransferase) và ALT (Alanine aminotransferase) và có xu hướng bảo vệ mô tế bào gan [4].
Năm 2016 Wang và các cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng polysaccharid từ S. sphenanthera trên mô hình chuột mắc bệnh viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) với mức liều 100 mg/kg/ngày trong vòng 12 tuần. Kết quả cho thấy các chỉ số TG (Triglycerid), TC (Total cholesterol), LDL (Low density lipoprotein cholesterol), ALT, AST lần lượt giảm 31,3%; 28,3%; 42,8%; 20,1%; và 15,5%. Các lignan phân lập, được đặc biệt là dibenzocyclooctadiene lignan, từ quả của S.
sphenanthera đã được nghiên cứu rộng rãi gồm có: deoxyschizandrin, gomisin A, schizandrin C, schisanhenol và gomisin J đã được báo cáo cho thấy các đặc tính chống oxy hóa mạnh, làm giảm hoạt độ ALT, AST trong huyết thanh [1]. Tác dụng trên tuần hoàn Ngũ vị tử có hoạt tính chống đông máu trong thử nghiệm in vitro. Lignan của Ngũ vị tử có hoạt tính đối kháng với yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, yếu tố này có vai trò trong nhiều tác dụng trên người như hạ huyết áp, tăng độ thẩm thấu mao mạch, viêm cấp, hen suyễn, loét dạ dày,… [4]. Tác dụng trên tim mạch: K.
Markova đã chứng minh rằng với liều nhỏ và liều trung bình (0,2-0,5 mg/kg thể trọng) tiêm vào mạch máu (dạng nước hãm) có tác dụng làm mạnh hệ thống tim mạch của những động vật máu nóng, làm mạnh huyết áp và tăng biên độ co bóp tim [5]. Tác dụng trên thần kinh V. Ephimova nghiên cứu tác dụng của Ngũ vị tử đối với khả năng kích thích của hệ thống thần kinh cơ trên những người từ 18-54 tuổi. Kết quả cho thấy 11 trên 13 người uống Ngũ vị tử đã thấy khả năng kích thích của thần kinh cơ được tăng lên, chức năng của hệ thần kinh ngoại vi được mạnh lên.
Liều mạnh nhất đối với người trưởng thành là 1,5g [5]. Tác dụng chống oxy hóa Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác dụng chống oxy hóa của các hợp chất polysaccharid và polyphenol có trong quả của S. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra schisandrin B (một chất thuộc nhóm lignan) đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ gan, chống oxy hóa và chống ung thư [30]. Năm 2015, Jiang và các cộng sự đã thử nghiệm hoạt tính sinh học của schisandrin B ở nồng độ 10 μM.
Kết quả cho thấy schisandrin B làm tăng mức độ superoxide dismutase (SOD) trong tế bào, ức chế peroxid hóa lipid và giảm lactate dehydrogenase và malondialdehyde [31].