CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Phương pháp phân tích thành phần hóa học bằng khối phổ phân giải cao 1. Giới thiệu Khối phổ phân giải cao là một kỹ thuật mới được sử dụng để phân tích nhanh thành phần hóa học của các hợp chất với độ chính xác và phân giải cao. Phương pháp này rất hữu ích trong việc xác định công thức chung và cấu trúc của các hợp chất dựa trên các phân mảnh của chúng.
Một số nghiên cứu phân tích thành phần hóa học của dược liệu bằng khối phổ phân giải cao. Năm 2011, Lee Suan Chua và cộng sự đã sử dụng LC-MS/MS để xác định các chất chuyển hóa nhỏ) và để phát hiện các chất chuyển hóa mục tiêu như quassinoids, alkaloid, triterpene và biphenylneolignan từ chất chiết xuất từ dịch chiết nước của Eurycoma longifolia. [48] Năm 2013, DK Gupta cùng các cộng sự đã xác định 2 hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học quan trọng là glycyrrhizin và acid glycyrrhetic có trong rễ cây cam thảo bằng phân tích khối phổ phân giải cao và tiến hành tinh chế 2 hợp chất này. Năm 2016, Ting-Ting Sun và cộng sự đã tách và xác định 31 saponin trong nhân sâm Shizhu bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu suất cao siêu nhanh, nhạy và đáng tin cậy cùng với phương pháp MS/MS (UHPLC-MS/MS) thành phần hóa học có trong nhân sâm Shizhu [51].
Năm 2017, Shuailong Jia và cộng sự đã xác định thành phần hóa học của curcuminoid trong nghệ dựa trên phân tích UHPLC-QTOF-MS/MS, 89 curcuminoid bao gồm 16 chất mới đã được xác định trong các mẫu nghệ bằng cách sử dụng phương pháp này. [52] Năm 2018, Miao-Miao Jin và cộng sự nghiên cứu thành phần hoạt tính sinh học chính của Pulsatilla chinensis bằng (UPLC-QTOF-MS/MS) để xác định đặc tính và nhận dạng hiệu quả saponin triterpenoid trong dịch chiết thô từ Pulsatilla chinensis. Kết quả là xác định tổng số 22 saponin triterpenoid dựa trên thời gian lưu, các mẫu phân mảnh khối phổ và dữ liệu MS và MS/MS [53]. Năm 2019, Ri Na Su cùng các cộng sự đã xác định được các thành phần hóa học của cây tầm ma – (Urtica hyperborea) thông qua thời gian lưu, khối lượng phân tử tương đối chính xác, các đoạn phân cắt của MS/MS và dữ liệu được báo cáo, bao 4 gồm 8 flavonoid, 14 hợp chất phenolic, 8 phenylpropanoid (4 coumarin và 4 lignan), và 1 hợp chất steroid bằng phương pháp khối phổ phân giải cao (UHPLC-MS/MS) [54].
Năm 2020, Ning Li và cộng sự, thiết lập một phương pháp phân loại và xác định nhanh các thành phần hóa học phức tạp của Epimedium koreanum Nakai, là một loại thuốc thảo dược nổi tiếng của Trung Quốc để điều trị loãng xương, ức chế miễn dịch, khối u và các bệnh tim mạch. Các mẫu được phân tích bằng sắc ký lỏng hiệu năng siêu cao khối phổ thời gian bay (UPLC-Q-TOF-MS) và các kỹ thuật xử lý sau dữ liệu. [55] Năm 2021, Haotian-Pei và cộng sự đã nghiên cứu sáu bộ phận của sen (hạt, lá, mầm, nhị, thụ và thân rễ) UPLC-QTOF-MS kết hợp với nền tảng UNIFI và phân tích thống kê đa biến đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả là, tổng cộng 171 hợp chất đã được phát hiện và xác định đặc điểm từ sáu bộ phận, và 23 dấu ấn sinh học mạnh mẽ đã được phát hiện.
Quan trọng nhất, đây là lần đầu tiên người ta phát hiện thấy alkaloid trong nhị hoa. Phần nhị hoa là một phần đáng chú ý vì nó chứa nhiều flavonoid và terpenoit nhất, nhưng nghiên cứu về nhị hoa còn khá hạn chế. Chiến lược “ Dereplication’’ “Dereplication” là “một quá trình sàng lọc nhanh chóng giúp xác định thành phần hóa học các hợp chất đã biết”, được định nghĩa đầu tiên vào năm 1990 bởi Beutler JA và các cộng sự [57]. Một số nghiên cứu “Dereplication” trong nước và trên thế giới Năm 2017, Jane Hubert và các cộng sự đã tổng kết những công cụ và phương pháp nghiên cứu các hợp chất tự nhiên bằng chiến lược “Dereplication”.
Từ năm 1990 đến năm 2014 có hơn 358 tài liệu nghiên cứu về “Dereplication”, các nghiên cứu không chỉ liên quan đến dược lý, dược phẩm, hóa học, hoặc khoa học thực vật, mà còn cả sinh học phân tử, công nghệ sinh học˗khoa học, vi sinh và công nghệ khoa học thực phẩm. Năm 2019, Yilin-Gao và các cộng sự đã dựa vào dữ liệu sắc ký lỏng kết hợp phân tích khối phổ làm sáng tỏ cấu trúc của các hợp chất chuyển hóa từ chiết xuất nấm dược liệu và tế bào ung thư, sau đó nhận biết những thay đổi của chúng theo cách bán định lượng và đã phát hiện ra khoảng 100 loại ion mới có mặt trong các tế bào bệnh bạch cầu [60]. Phương pháp HRMS ngày càng trở nên phổ biến và trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực để tiến hành các nghiên cứu về thành phần hóa học, xác định cấu trúc, và nhiều mục tiêu khác. Đối với ở nước ngoài thì các nhà khoa học đang sử dụng phương pháp HRMS rất nhiều và công bố những công trình vô vùng hữu ích, nhưng ở Việt Nam phương pháp này vẫn còn hạn chế chưa được sử dụng rộng rãi.
Vì thế, việc thực hiện sử dụng phương pháp này để có kết quả nhanh, chính xác và theo kịp với tình hình phát triển khoa học của thế giới. Tổng quan về dược liệu 1. Cây Thường xuân 1. Giới thiệu chung Chi Hedera trong hệ thống phân loại thực vật thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae).
Trên thế giới, chi Hedera có khoảng 15 loài với đặc điểm hình thái chung dạng dây leo, phân bố chủ yếu ở châu Âu, Tây Á. Ở Việt Nam, hai loài được nghiên cứu và sử dụng làm thuốc phổ biến hơn cả là Thường xuân (Hedera helix L.) và dây thường xuân (Hedera nepalensis K Koch. - Tên khoa học: Hedera helix L. - Họ: Ngũ gia bì (Araliaceae) - Chi: Hedera - Loài Thường xuân (Hedera helix L.
là một loài dây leo thân gỗ thường xanh, mọc cao tới 20–30 m ở những nơi có bề mặt thích hợp (cây cối, vách đá, tường). Các lá mọc so le, phiến lá có 3–5 thùy hình lòng bàn tay, dài 50–100 mm, với cuống lá dài 15–20 mm. Mặt trên của lá có màu xanh lục đậm, mặt dưới thì có màu xanh xám và đường vân nổi lên rõ rệt. Những bông hoa nhỏ màu vàng lục có đường kính từ 3–5 cm được tạo ra từ mùa hè cho đến cuối mùa thu; quả là những quả chín nhỏ màu đen, chín vào mùa đông.
6 Thường xuân mọc tự nhiên ở miền Tây, miền Trung và miền Nam Châu Âu nhưng cũng đã xuất hiện tại Bắc Mỹ và Châu Á. Nó là một cây cảnh phổ biến ở nhiều nước [3]. Thường xuân không phải cây bản địa ở Việt Nam, có phân bố tương đối hẹp ở Châu Á và được ghi nhận xuất hiện ở một số tỉnh vùng núi cao Việt Nam.1: Hedera helix Hình 1. Hoạt tính sinh học Ở Việt Nam, Hedera helix được sử dụng cho các rối loạn về gan, lá lách và túi mật, cũng như co thắt cơ, bệnh gout, viêm phế quản mạn tính, bệnh lao phổi.
Thuốc được làm từ Hedera helix cũng được sử dụng để làm giảm sưng màng đường hô hấp và phá vỡ sự tắc nghẽn ở ngực (như là một thuốc long đờm). Một số người bôi Hedera helix trực tiếp lên da bị bỏng, vết chai, nhiễm trùng dưới da (viêm mô tế bào), sưng, đau dây thần kinh, nhiễm ký sinh trùng, viêm loét, đau khớp (thấp khớp) và các tĩnh mạch bị sưng (viêm tĩnh mạch). [4] Cao chiết từ lá thường xuân đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị viêm phế quản cấp tính, mãn tính, và ho kéo dài ở cả người lớn và trẻ nhỏ. [5]- [8] Các hợp chất chiết xuất từ Hedera helix có tính kháng khuẩn.
[9]- [11] Các hợp chất chiết xuất từ Hedera helix hoạt tính chống giun sán. [12] Dịch chiết khô thu được từ cây Hedera helix có hoạt tính chống co thắt. [13] - Hederin chiết xuất từ lá cây Hedera helix có hoạt tính chống độc tính trên gan. [14] Chiết xuất ethanol từ cây Hedera helix có khả năng kháng viêm.
[15], [16] Các hợp chất saponin cô lập từ lá Hedera helix có hoạt tính chống oxi hóa. [10], [17] Các hợp chất chiết xuất từ Hedera helix hoạt tính trên nhu động ruột. [18] Hederagenin chiết xuất từ Hedera helix có khả năng chống khối u.Thành phần hóa học Một số nghiên cứu, Năm 2014, Miao Yu và cộng sự đã xác định saponin và flavonoid trong dịch chiết lá thường xuân bằng HPLC-DAD đã được sử dụng để điều trị các chứng rối loạn hô hấp khác nhau và là loại thuốc thảo dược trị ho bán chạy 7 nhất ở nhiều quốc gia. Thông thường, chiết xuất lá thường xuân và các sản phẩm thuốc của nó được tiêu chuẩn hóa dựa trên hàm lượng của hederacoside C và - hederin.
Vì thuốc thảo dược bao gồm hóa chất phức tạp, có thể là các hợp chất khác cũng vì các hợp chất đánh dấu có thể góp phần vào sự an toàn và hiệu quả của thuốc thảo dược. Năm 2015, Zeeshan Ahmed Sheikh và cộng sự đã dùng kỹ thuật HPLC-PAD để xác định các sản phẩm thảo dược từ thường xuân trị ho và xác định dấu ấn sinh học hederacoside C cho tính nhất quán của sản xuất trong sản phẩm siro trị ho của ba nhãn hiệu siro khác nhau. [Ivy Herbal Products for Cough and its Validation for Hederacoside C Biomarker Determination with HPLC _PAD Techniques] [21] Năm 2015, Trịnh Thị Điệp và các cộng sự [20, 1] đã cô lập hederacosid C (1) và -hederin (2) trong lá cây Hedera helix L. thu hái tại Đà Lạt.
Năm 2016, Nguyễn Thị Hoàng Mai và các cộng sự [2] đã cô lập và định lượng hederacosid C (1) và ˗hederin (2) trong lá cây thường xuân bằng HPLC.1 Thành phần hóa học của Hedera helix Hợp chất Triterpene Hederagenin (10) Oleanoic acid (11) Bayogenin (28) Hợp chất Triterpene saponin -Hederin (2) -Hederin (13) 8 Hederasaponin C (1) Hederasaponin B (4) Hederasaponin D (3) Hederasaponin F (29) 3-Sulfate của 28-O-β-gentiobiosyloleanate Hederasaponin E (12) (helicoside L-8a) (34) 9 3-Sulfate của oleanolic acid (32) 3-Sulfate của echinocystic acid (33) Ara: -L-arabinopyranosyl Xyl: -D-xylopyranosyl Glc: -D-glucopyranosyl Glc A: -D-glucuronopyranosyl Rha: -L-rhamnopyranosyl.