Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chi Datura Chi Datura là chi trong họ Cà (Solananceae). Trên thế giới chi Datura có khoảng năm loài là Datura. alba, ở Viêṭ Nam, theo tác giả Võ Văn Chi mới tìm thấy bốn loài là D.
suaveolens [1]; Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ, chi Datura có ba loài: D. Nghiên cứu hóa học chi Datura Trong cuốn sách “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, tác giả Đỗ Tất Lợi chỉ mô tả một loài D. metel (cà độc dược) trong chi Datura. Loài này có tác dụng khử phong thấp, chữa hen xuyễn, nước sắc dùng để rửa những nơi da tê dại, chữa hàn thấp, chữa ho hen, say sóng hoặc nôn mửa khi đi máy bay.
Có thể dùng bột lá hay bột hoa, hoặc dùng lá hay hoa phơi khô, thái nhỏ để hút như thuốc lá. Trong lá, hoa, hạt và rễ loài này chứa các alcanoit tropan là: scopolamine (hyoscine) (1), atropine (2) và hyoscyamine (3) [3]. Các bộ phận lá, rễ, vỏ thân, cành, quả của các loài trong chi Datura là các vị thuốc quí trong dân gian. Lá cà độc dược (D.) đã được sử dụng ở Ấn Độ và châu Phi để điều trị các rối loạn hô hấp và bệnh hen suyễn [4].
Hoa của loài D. được dùng làm thuốc gây mê, điều trị các chứng ho, hen suyễn và co giật [5]. Ở Trung Quốc, hoa của loài này có tác dụng rõ ràng trong điều trị lâm sàng bệnh vẩy nến. Bên cạnh đó, nhiều tác dụng dược lý bao gồm chống viêm, chống kích động của da và chống sốc phản vệ cũng được các nhà khoa học Trung Quốc thông báo [6].
Từ dịch chiết 50% etanol 3 của hoa loài D. năm hợp chất dạng megastigmane sesquiterpene đã được phân lập: yangjinhualine A (4), grasshopper ketone (5), citroside A (6), vomifoliol (7), (6S,9R)-6-hydroxy-3-oxo-α-ionol-9-O-β-D-glucopyranoside (8) và (6R,9R)-3-oxo-α-ionol-9-O-β-D-glucopyranoside (9) [7] và hai hợp chất khung steroidal lactone là baimantuoluoline G (10) và baimantuoluoside H (11). Cấu trúc khung này được thông báo có hoạt tính gây độc tế bào, chống oxi hóa, kháng viêm và kháng u mạnh [8]. 4 R1 R2 5 R = H; 7 OH H 6 R = Glc 8 OH Glc 9 H Glc 10 11 Cũng từ là loài D.
tám hợp chất daturamalakoside A (12), daturamalakoside B (13), daturamalakin A (14), daturamalakin B (15), phenowithanolide (16), daturametelin B (17), withametelin (18) và daturametelin A (19) được phân lập, kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào cho thấy hợp chất 13 có hoạt tính độc tế bào với dòng tế bào ung thư phổi (A549) và đại trực tràng (DLD-1) với giá trị IC50 lần lượt là 7 µM và 2,0 µM. Các 4 hợp chất 17 và 18 có hoạt tính độc tế bào mạnh hơn với dòng tế bào ung thư đại trực tràng (DLD-1) với giá trị IC50 lần lượt là 0,6 µM và 0,7 µM [9]. Tiếp tục nghiên cứu thành phần hóa học từ lá loài D. năm hợp chất khung steroidal lactone được phân lập dmetelin A (20), dmetelin B (21), dmetelin C (22), dmetelin D (23) và 7α,27-dihydroxy-1-oxowitha-2,5,24- trienolide (24).
Các hợp chất được thử nghiệm kháng viêm, kết quả cho thấy hợp chất 20, 23, 24 thể hiện hoạt tính kháng viêm với giá trị IC50 lần lượt là: 17,8 µM, 11,6 µM và 14,9 µM [10]. 20 21 22 R1= α OH R2 = OGlc6Glc1 23 R1= β OH R2 = OH 24 R1= α OH R2 = OH 5 Bằng phương pháp sắc ký khí - phổ khối, 67 ancaloit đã được tìm thấy từ lá, cành, rễ, hạt của loài D. Chất hyoxyamin (3) được tìm thấy ở rễ, cành, lá, hoa và hạt với hàm lượng lớn nhất. Trong đó có 9 ancaloit mới là: 3,7-dihydroxy-6-propionyloxytropane (25), 6,7-dehydro-3-tigloyloxytropane (26), 3-tigloyloxy-6,7-epoxytropane (27), 3,7-dihydroxy-6-(2′- methylbutyryloxy)tropane (28), 6,7-dehydroapoatropine (29),3-(3′- methoxytropoyloxy)tropane (30), 3-tigloyloxy-6-isobutyryloxy-7- hydroxytropane (31), 3-tropoyloxy-6-isobutyryloxytropane (32), 3β-tropoyloxy-6β-isovaleroyloxytropane (33) [11].
Trong một bài nghiên cứu về tác dụng dược lý và tính độc của loài D. stramonium nhóm tác giả Bhakta Prasad Gaire, Lalita Subedi đã thông báo có 13 hợp chất được phân lập từ loài này: scopolamine (hyoscine) (1), atropine 6 (2), hyoscyamine (3), scopolin (34), atropamin (35), sitosterol (36), sophorose (37), cuscohygrine (38), esculetin (39), chlorgenic acid (40), ferunic acid (41), menteloidin (42) và apoatropin (43). Những tác dụng dược lý đáng chú ý của loài D. stramonium là điều trị bệnh hen suyễn, chống động kinh, kháng khuẩn, kháng nấm và chống ung thư tế bào biểu mô [12].
34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 Hoạt tính chống ung thư của hợp chất dinoxin B (44) và aglycon của dinoxin B (45) phân lập từ lá loài D. inoxia được Karl Vermillion và cộng sự nghiên cứu. Kết quả cho thấy hợp chất 44 có hoạt tính mạnh hơn hợp chất 45 trên 6 dòng tế bào ung thư vú, 4 dòng tế bào ung thư ruột kết, 2 dòng tế bào ung thư phổi, 2 dòng tế bào ung thư gan, 4 dòng tế bào ung thư da và 1 dòng tế bào ung thư buồng trứng [13]. wrightii, Huaping Zhang và cộng sự đã phân lập được 5 hợp chất có cấu trúc withanolide: withawrightolide (46), withametelin L (47), withametelin hay daturilin (48), withametelin O (49) và withametelin F (50).
Tất cả năm withanolides (46-50) đã được thử hoạt tính gây độc tế bào đối với các dòng tế bào ung thư não (U251 và U87), ung thư biểu mô (MDA-1986), nguyên bào phổi thai nhi (MRC-5). Kết quả cho thấy, các hợp chất đều thể hiện hoạt tính mạnh với giá trị IC50 trong khoảng 0,56 - 5,6 µM [14]. Giới thiệu cây cà độc dược (Datura metel) 1. Đặc điểm thực vật Tên khoa học: Datura metel Tên tiếng Việt: cà độc dược Chi: Datura Họ: Cà (Solananceae) Mô tả : Cây thân thảo cao đến 2m, sống hàng năm, phần gốc của thân hóa gỗ.
Thân và cành non màu xanh lục hay tím, có nhiều lông tơ ngắn. Lá đơn , mọc so le, phiến lá nguyên, hình trứng nhọn, gốc phiến lá không đều. Hoa to mọc đứng, thường đơn độc, phía trên cánh có 5 răng, cánh hoa màu trắng, dính Hình 1. Cây cà độc dược liền với nhau thành hình phễu.
Công dụng theo kinh nghiệm dân gian Trong y học cổ truyền Trung Hoa, nó là một trong 50 vị thuốc cơ bản, với tên gọi dương kim hoa. Theo Đông y, hoa cà độc dược có vị cay, tính ôn, có độc, có tác dụng ngừa suyễn, giảm ho, chống đau, chống co giật, phong thấp đau nhức. Lá là vị thuốc ngừa cơn hen, giảm đau bao tử, chống say tàu xe. Ngoài ra còn điều trị phong tê thấp, đau dây thần kinh toạ, đau răng.
Người ta thường dùng lá cuộn thành điếu hay thái nhỏ vấn thành điếu thuốc để hút (chữa ho, hen suyễn), dùng lá hơ nóng đắp điều trị đau nhức, tê thấp, hoặc phơi khô tán bột mịn. 9 Vì cây có độc tính cao nên chỉ dùng theo sự hướng dẫn của thầy thuốc. Khi bị ngộ độc, có hiện tượng giãn đồng tử, mờ mắt, tim đập nhanh, giãn phế quản, môi miệng khô, khô cổ đến mức không nuốt và không nói được. Chất độc tác động vào hệ thần kinh trung ương, có thể gây tử vong do hôn mê.
Trong nước, hầu như chưa có công trình nào công bố về thành phần hóa học cũng như giải thích được tác dụng của các chất có trong cây cà độc dược. Vì vậy luận văn này đóng góp được phần nào nghiên cứu về thành phần hóa học cây cà độc dược. Tổng quan về các phương pháp chiết mẫu thực vật Sau khi tiến hành thu hái và làm khô mẫu, tuỳ thuộc vào đối tượng chất có trong mẫu khác nhau (chất phân cực, chất không phân cực, chất có độ phân cực trung bình,…) mà ta chọn dung môi và hệ dung môi khác nhau. Chọn dung môi chiết Thường thì các chất chuyển hóa thứ cấp trong cây có độ phân cực khác nhau.
Tuy nhiên những thành phần tan trong nước ít khi được quan tâm. Dung môi dùng trong quá trình chiết cần phải được lựa chọn rất cẩn thận. Điều kiện của dung môi là phải hòa tan được những chất chuyển hoá thứ cấp đang nghiên cứu, dễ dàng được loại bỏ, có tính trơ (không phản ứng với chất nghiên cứu), không dễ bốc cháy, không độc. Nếu dung môi có lẫn các tạp chất thì có thể ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng của quá trình chiết.
Vì vậy những dung môi này nên được chưng cất để thu được dạng sạch trước khi sử dụng. Thường có một số chất dẻo lẫn trong dung môi như các diankyl phtalat, tri-n-butyl-axetylcitrar và tributylphosphat. Những chất này có thể lẫn với dung môi trong quá trình sản xuất hoặc trong khâu bảo quản như trong các thùng chứa hoặc các nút đậy bằng nhựa. Methanol và chlorofrom thường chứa dioctylphtalat [di-(2-etylhexyl)- phtalat hoặc bis-2-etylhexyl-phtalat].
Chất này sẽ làm sai lệch kết quả phân lập trong các quá trình nghiên cứu hoá thực vật, thể hiện hoạt tính trong thử nghiệm sinh học và có thể làm bẩn dịch chiết của cây. Chlrofrom, metylen 10 clorit và methanol là những dung môi thường được lựa chọn trong quá trình chiết sơ bộ một phần của cây như: lá, thân, rễ, củ, quả, hoa… Những tạp chất của chlorofrom như CH2Cl2, CH2ClBr có thể phản ứng với một vài hợp chất như các ancaloit tạo muối bậc 4 và những sản phẩm khác. Tương tự như vậy, sự có mặt của lượng nhỏ axit clohiđric (HCl) cũng có thể gây ra sự phân huỷ, sự khử nước hay sự đồng phân hoá với các hợp chất khác. Chlorofrom có thể gây tổn thương cho gan và thận nên khi làm việc với chất này cần được thao tác khéo léo, cẩn thận ở nơi thoáng mát và phải đeo mặt nạ phòng độc.
Metylen clorit ít độc hơn và dễ bay hơi hơn chlorofrom. Methanol và ethanol 80% là những dung môi phân cực hơn các hiđrocacbon thế clo. Người ta cho rằng các dung môi thuộc nhóm rượu sẽ thấm tốt hơn lên màng tế bào nên quá trình chiết với các dung môi này sẽ thu được lượng lớn các thành phần trong tế bào. Trái lại, khả năng phân cực của chlorofrom thấp hơn, nó có thể rửa giải các chất nằm ngoài tế bào.
Các ancol hoà tan phần lớn các chất chuyển hoá phân cực cùng với các hợp chất phân cực trung bình và thấp. Vì vậy, khi chiết bằng ancol thì các chất này cũng bị hoà tan đồng thời. Thông thường dung môi cồn trong nước có những đặc tính tốt nhất cho quá trình chiết sơ bộ. Tuy nhiên cũng có một vài sản phẩm mới được tạo thành khi dùng methanol trong suốt quá trình chiết.
Ví dụ trechlonolide A thu được từ trechlonaetes aciniata được chuyển thành trechlonolide B bằng quá trình phân huỷ 1-hydroxytropacocain cũng xảy ra khi erythroxylum novogranatense được chiết trong methanol nóng. Người ta thường ít sử dụng nước để thu được dịch chiết thô từ cây mà thay vào đó là dùng dung dịch nước của methanol.