CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ERP VÀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG ERP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan về CERP (Cloud ERP) 1. ERP và CERP Khái niệm ERP ERP là hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp được hiểu là một hệ thống quản lý các nguồn lực chính trong các tổ chức, doanh nghiệp. Đây là giải pháp quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh hằng ngày, lập kế hoạch cho các hoạt động trong tương lai bằng cách sử dụng các nguồn lực hiện có và dự kiến của doanh nghiệp.
Giải pháp này liên quan đến con người, công nghệ, dữ liệu, quy trình,… trong doanh nghiệp, nó góp phần thúc đẩy, nâng cấp hoạt động quản lý trong doanh nghiệp. Đặc biệt là hỗ trợ trao đổi thông tin theo thời gian thực[O’Leary, 2000]. Khái niệm CERP Từ những năm đầu của kỷ 21, tốc độ internet được cải thiện đáng kể, các công nghệ mới đã một lần nữa tạo lên bước ngoặt trong việc cách mạng hóa các giải pháp ERP. Đặc biệt với sự ra đời của nền tảng Web đã mở đường cho ERP đám mây(CERP), đây là một bước đột phá đã mở rộng chức năng của các giải pháp và phạm vi tiếp cận cho ERP.
CERP là một hệ thống ERP được cung cấp như một dịch vụ nơi CERP được xây dựng trên nền tảng Web. Nó cho phép người dùng truy cập thông qua internet mà không cần thực hiện bất kỳ cấu hình hoặc cài đặt nào cho người dùng [Elmonem, Nasr & Geith, 2016]. Hệ thống CERP là hệ thống thông tin toàn công ty và được cung cấp với nhiệm vụ giúp tích hợp hoạt động hậu cần chính vào các quy trình khác nhau của doanh nghiệp. Sau đó, chúng hoạt động trên một số phòng ban trong khi chỉ phải phụ thuộc vào một kho lưu trữ dữ liệu duy nhất [AL-Shboul, 2020].
CERP mang lại cho người sử dụng chức năng phù hợp với chức năng của hệ thống ERP nội bộ. Sự khác biệt là CERP có thể được sử dụng với chi phí thấp hơn do nó được thiết lập bởi một nhà cung cấp bên thứ ba không có trụ sở và có thể cung cấp các dịch vụ bảo trì, hỗ trợ và trả góp bên ngoài [Gupta và cộng sự, 2018]. CERP được cho là giúp cải thiện khả năng tiếp cận, tính linh hoạt, khả năng mở rộng, hiệu quả triển khai, tính minh bạch, tự động hóa bán hàng, bảo mật đồng thời giảm thiểu chi phí[Gupta et al, 2019]. Hệ thống CERP có thể có những mặt tiêu cực đối với việc triển khai hệ thống vào tổ chức.
Những lo ngại này thường là sự không an toàn về 2 môi trường đám mây, hiệu suất và khả năng phản kháng với sự thay đổi của tổ chức. Nguồn gốc của những vấn đề trên, ngay cả các khía cạnh tiêu cực của việc triển khai hệ thống CERP thường liên quan đến sự phù hợp tổ chức của hệ thống [Johansson và cộng sự, 2015; Morton & Hu, 2008]. Sự tương đồng giữa ERP và MIS (Hệ thống thông tin quản lý) Ngày nay, rất nhiều công ty đang bỏ dần những hệ thống độc lập như: phần mềm kế toán, marketing, tính lương,…để chuyển sang các giải pháp tiên tiến, phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của công nghệ hiện nay như MIS và ERP. Cả hai công nghệ này đều được thiết kế cho việc quản lý doanh nghiệp hiệu quả hơn và đơn giản hóa việc ra quyết định cho doanh nghiệp.
Có nhiều điểm tương đồng giữa hai hệ thống này, chúng cũng có khá nhiều điểm khác biệt mà cần được phân tích và tìm hiểu chi tiết. MIS được hiểu là một hệ thống thông tin tập trung vào việc thu thập, thống kê, tổng hợp thông tin, dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn như báo cáo khách hàng, thông tin từ tài nguyên web thương mại điện tử, …từ đó phân tích nhằm cải tiến, tự động hóa quy trình, cải thiện doanh số và tăng cường hiệu quả kinh doanh. Quyết định triển khai MIS được đưa ra trực tiếp bởi quản lý cấp cao hoặc lãnh đạo công nghệ trong doanh nghiệp. Bên cạnh các ưu điểm trên, MIS còn có nhược điểm như: Giá thành cao, do vậy nó thường được lựa chọn bởi các doanh nghiệp lớn có khả năng mua giải pháp phần mềm.
Bên cạnh đó cần đào tạo nhân sự, tạo lập và chuẩn hóa các quy trình, phương pháp kinh doanh để tiếp nhận, phân tích và phân phối dữ liệu trước khi sử dụng và hưởng lợi từ MIS. ERP được coi một phần của HTTT quản lý - MIS, với mục đích là tự động hóa và số hóa các tác vụ hằng ngày. Do chức năng và sự tiện lợi của nó, ERP thường được ưa chuộng hơn MIS, vì ERP được thiết kế cho các nhiệm vụ chuyên môn hóa cao hơn và cho phép nhiều hệ thống con tích hợp vào một hệ thống tổng thể cùng một lúc tạo điều kiện tương tác giữa các quy trình và phòng ban khác nhau của công ty. Nếu không có ERP duy nhất, mỗi bộ phận trong công ty sẽ có một hệ thống riêng phù hợp với nhiệm vụ và mục tiêu của từng bộ phận cụ thể đó.
Còn ERP, từng bộ phận lại được tích hợp với nhau để tạo ra một ứng dụng duy nhất với giao diện dùng chung nhưng cũng không hề xóa bỏ đi phần riêng biệt của các phân hệ. Tất cả người sử dụng có thể truy cập, chia sẻ thông tin và giao lưu với nhau dễ dàng hơn, vì thông tin luôn sẵn sàng cho người dùng theo quyền hạn để có thể sử dụng thông tin đó một cách hiệu quả. Tuy nhiên, thách thức của ERP là nếu không triển khai và sử dụng hệ thống đúng cách, nó có thể hoạt động kém hiệu quả dẫn tới doanh nghiệp có thể bị vượt chi phí. 3 Tóm lại, cả MIS và ERP đều quan tâm đến việc giám sát các quy trình kinh doanh, thu thập, truyền tải, và phân phối thông tin trong tổ chức.
Thông qua MIS, tổ chức thực hiện thu thập dữ liệu từ mỗi giao dịch và sau đó tiến hành phân tích, thông tin kết quả tạo ra sẽ hỗ trợ kiểm soát các hoạt động tác nghiệp. Thông tin này được quản lý cấp cao sử dụng để thực hiện kiểm soát quản lý và đưa ra các quyết định phù hợp với mục tiêu kinh doanh. Một hệ thống ERP tích hợp các quy trình và hệ thống khác nhau và giúp thu thập dữ liệu với độ chính xác và tích hợp cao. Dữ liệu được nhập vào cùng một lúc sẽ khả dụng cho toàn bộ tổ chức.
Do đó, quy trình ra quyết định trong ERP sử dụng cùng một thông tin trong toàn bộ tổ chức mang lại tính nhất quán và có khả năng dự đoán. ERP và MIS có thể bổ sung cho nhau nếu các hệ thống được tích hợp tốt và thích hợp nhất với những nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp. ERP cung cấp tính năng cho phép ban quản lý đưa ra các quyết định như khi nào thì cần giảm nhân sự hay đầu tư vào một số lĩnh vực sản phẩm nào đó. Nhờ vào ERP, việc quản lý hàng tồn kho trở nên dễ dàng hơn do ít phải đầu tư vào quy trình thực hiện, thời gian gom hàng giảm xuống và vòng đời phát triển sản phẩm cũng được thu gọn lại, những mong muốn của khách hàng được nắm bắt nhanh hơn, nhờ vậy tổ chức có thể có những đáp ứng kịp thời hơn.
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng giữa ERP và MIS có mối quan hệ bổ sung cho nhau. ERP giúp thu thập, cập nhật và phân tích dữ liệu làm nền tảng để MIS có thể tạo ra các báo cáo theo yêu cầu [Ganesh và cộng sự, 2014]. Mối quan hệ giữa MIS và ERP Nguồn: Ganesh và cộng sự, 2014 4 1. Xu thế phát triển và lịch sử ra đời của ERP Hình 1.
Lịch sử phát triển ERP Nguồn: Tác giả tổng hợp Lịch sử của ERP được bắt nguồn từ hệ thống quản lý các yêu cầu vật tư trong sản xuất (MRP) vào những năm 1960, khi J. Case, nhà sản xuất máy kéo và máy móc xây dựng, đã hợp tác với IBM để phát triển hệ thống MRP đầu tiên. Sau đó, các nhà sản xuất lớn đã thực hiện các giải pháp MRP của riêng họ. 5 Các hệ thống MRP đã nâng cấp thành hệ thống hoạch định vật liệu (MRP) vào những năm 1970 và 1980, có bổ sung thêm chức năng để trả lời các câu hỏi như cần bổ sung hàng tồn kho nào, bổ sung khi nào và với số lượng bao nhiêu bổ sung thêm việc lập kế hoạch nguồn lực sản xuất vào hỗn hợp.
Vào những năm 1990, ERP bắt đầu được tích hợp MRP với các tài nguyên doanh nghiệp khác, nguồn tài chính, chức năng bán hàng và mua hàng cũng như các quy trình kinh doanh khác. Đây là tiền thân của hệ thống ERP hiện nay. Vào những năm 2000, các sản phẩm phần mềm phát triển theo hướng sản phẩm web ngày càng đại trà, do vậy hệ thống ERP lại tiếp tục cải tiến và trở thành sản phẩm xây dựng trên nền tảng Web tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng có thể sử dụng ở bất kỳ đâu, mọi lúc, mọi nơi. Trong những năm 2010, hấu hết các sản phẩm ERP được phát triển chủ yếu với công nghệ Web, App và sử dụng đám mây lưu trữ.
Điều này đánh dấu sự khởi đầu của Phần mềm SaaS tức là phần mềm như một dịch vụ cho ERP, người dùng muốn sử dụng hệ thống thay vì mua hoàn toàn thì chỉ phải trả tiền thuê. Trong cùng thời gian, các tổ chức phát triển ERP đã áp dụng một chiến lược mới, chuyển từ việc tự xây dựng tất cả các chức năng do chi phí phát triển và bảo trì cao. Thay vào đó, họ đã tạo ra khái niệm về Người bán lại giá trị gia tăng, trong đó những người đứng đầu ERP đã phát triển các chức năng cốt lõi và kiến trúc phần mềm cho phép bên thứ ba xây dựng các tiện ích bổ sung hoặc tiện ích mở rộng chuyên biệt. Các tiện ích bổ sung này hoạt động như các mô-đun bổ sung có thể được tích hợp vào phần mềm ERP để xử lý các nhu cầu kinh doanh cụ thể như thương mại điện tử và điểm bán lẻ.
Phương pháp tiếp cận này giúp các nhà phát triển ERP xây dựng nhiều chức năng phù hợp hơn đồng thời giảm chi phí phát triển và bảo trì của chính họ. Trong những năm 2020, ứng dụng phân tích và trí tuệ nhân tạo (AI) đã được đưa vào ngày một nhiều hơn trong các hệ thống ERP.