Chương 1: Giới thiệu chung bao gồm các nội dung bối cảnh chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết tập trung làm rõ các khái niệm, cơ sở -5- lý thuyết. Chương 3: Giới thiệu mô hình và lựa chọn biến đưa vào mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. -6- CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2.1 Hiệu quả Hiệu quả mô tả mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra. Trong kinh tế, hiệu quả thường được đề cập tới đó là hiệu quả Pareto, theo đó nguồn lực được phân bổ sao cho không có đối tượng nào khấm khá hơn mà không đồng thời làm cho ít nhất một đối tượng khác bị thiệt hại. Hiệu quả có thể được đo lường bằng nhiều phương pháp nhưng nghiên cứu này chỉ đề cập tới khía cạnh hiệu quả kỹ thuật của năng lực đổi mới công nghệ; trong đó hiệu quả được đo lường dựa trên tỷ lệ đầu vào và đầu ra của quá trình thích ứng đổi mới công nghệ.
Vì vậy, hiệu quả của đổi mới công nghệ chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.2 Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp được hiểu là khả năng triển khai các công nghệ hiệu quả. Việc đánh giá năng lực đổi mới công nghệ nhằm đưa ra các thông tin để doanh nghiệp nắm bắt tình trạng năng lực công nghệ của mình trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh và từ đó cân nhắc đưa ra các quyết định đổi mới công nghệ. Trên thế giới để đánh giá năng lực đổi mới công nghệ sử dụng phương pháp tiếp cận theo đầu vào đầu ra hay phương pháp đo lường công nghệ. Tại Việt Nam, thường sử dụng phương pháp Atlas với các tập trung vào phân tích đánh giá chỉ số hàm lượng công nghệ, môi trường, trình độ, năng lực và nhu cầu công nghệ (Tia sáng, 2016).
Đổi mới công nghệ là một quá trình phức tạp, liên quan tới sự tương tác của các yếu tố và nguồn lực khác nhau. Đổi mới công nghệ phức tạp, đa chiều và không thể đo lường trực tiếp (Hansen, 2001, Chiesa và cộng sự, 1998, Guan và Ma, 2003). Kết quả đổi mới công nghệ không chỉ phụ thuộc năng lực đổi mới công nghệ mà còn phụ thuộc các năng lực quan trọng khác của doanh nghiệp như năng lực sản xuất, năng lực tiếp thị, năng lực tổ chức, năng lực học tập và phân bổ nguồn lực (Barney, 1991). Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp được phản ánh thông qua một nhóm các chỉ tiêu như sự sẵn sàng trong chấp nhận công nghệ, khả năng chuyển các kết quả nghiên cứu thành hàng hóa.
Năng lực đổi mới công nghệ là tài sản đặc biệt của doanh nghiệp, bao gồm các lĩnh vực chủ chốt -7- khác nhau như công nghệ, quy trình, kiến thức, kinh nghiệm và tổ chức. Vì vậy, cần rất nhiều tài sản, nguồn lực và khả năng để đạt được thành công trong đổi mới công nghệ. Theo Evangelista và cộng sự (1997), các hoạt động R&D là thành phần trung tâm của hoạt động đổi mới công nghệ và là yếu tố quan trọng nhất. Có một mối liên kết giữa các tài nguyên vốn có của doanh nghiệp để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Adler và Shenbar (1990) xác định mối quan hệ đổi mới công nghệ gồm bốn khía cạnh, gồm có: (1) khả năng phát triển sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường, (2) năng lực phát triển và áp dụng các công nghệ để sản phẩm mới, (3) năng lực phát triển và áp dụng các công nghệ để đáp ứng nhu cầu tương lai và (4) sự sẵn sàng cho các tiếp nhận công nghệ. Mặc dù doanh nghiệp là đối tượng được hưởng lợi từ quá trình đánh giá năng lực đổi mới công nghệ nhưng các doanh nghiệp thường không quan tâm đúng mức tới quá trình đánh giá này. Vì vậy, cần có các tổ chức, cơ quan hỗ trợ thực hiện các phương pháp đánh giá thuyết phục và phổ biến vai trò của việc đánh giá tới các doanh nghiệp để từ đó hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả công nghệ, cải thiện năng lực cạnh tranh.3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng bên trong hay nội lực của doanh nghiệp và có thể được đo lường bằng mô hình 6M bao gồm máy móc, công nghệ, kỹ thuật; nguồn nhân lực; vốn tài chính; thị trường; tiếp thị và quản lý điều hành (Kotler và Armstrong, 1991 trích trong Hồ Đức Hùng, 2009) Dựa trên sự đa dạng của phương pháp tiếp cận đã hình thành nên nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Qua quá trình phát triển, theo phương pháp truyền thống năng lực cạnh tranh dựa trên tiền đề các doanh nghiệp đồng nhất về nguồn lực và chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp thực hiện.
Tuy nhiên, khi môi trường kinh doanh thay đổi tác động tới chiến lược kinh doanh các thuộc tính của các doanh nghiệp cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu, dễ bị bắt chước hoặc mua bán (Baney, 1991) trích trong Phạm Thu Hương, 2017). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là các yếu tố nội hàm của chủ thể theo đó có thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Như vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn có thể được hiểu là khả năng -8- cạnh tranh dưới sự tác động của môi trường cạnh tranh; lợi thế cạnh tranh và vị thế cạnh tranh (Porter, 1996). Năng lực cạnh tranh là dựa trên nguồn lực để tạo ra lợi thế, theo đó giúp các doanh nghiệp duy trì, phân bổ và tổ chức nguồn lực một cách hợp lý để đạt được mục tiêu.
Vì vậy, năng lực của doanh nghiệp là yếu tố quyết định và duy trì lợi thế cạnh tranh và đạt hiệu quả cao (Sanchez và Heene, 1996, 2004). Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố về kiểm soát chi phí đầu vào thấp và sự khác biệt (Porter, 1998). Các doanh nghiệp có thể đạt được cả hai mục tiêu kiểm soát chi phí và tạo sự khác biệt trong ngắn hạn, tuy nhiên cần tập trung vào một yếu tố trong dài hạn. Đổi mới công nghệ giúp doanh nghiệp có thể giảm chi phí đầu vào nhờ cải thiện quy trình sản xuất, tăng năng suất đồng thời tạo ra sự khác biệt và cải tiến sản phẩm.
Đồng thời Porter (1998) cũng chỉ ra một trong ba yếu tố giúp doanh nghiệp duy trì lợi thế cạnh tranh là quá trình cải tiến và nâng cấp công nghệ liên tục. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của quá trình đổi mới công nghệ trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp. Phân tích năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực và năng lực nhằm tìm hiểu nguồn gốc của năng lực cạnh tranh doanh nghiệp đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người (Langlois, 1992, Prahalad và Hamel, 1990, Teece và cộng sự, 1990, Hamel và Heene, 1994, Barney, 1991, Dierickx và Cool, 1989, Peteraf, 1993, Sun, 1994, Sun và Gertsen, 1995, Wernerfelt, 1984). Những nghiên cứu này đã chỉ ra không chỉ các yếu tố công nghệ mà yếu tố quản lý, sản xuất, tiếp thị và môi trường tạo thành nguồn lợi thế cạnh tranh.
Khả năng giới thiệu sản phẩm mới và rút ngắn thời gian áp dụng quy trình mới trở thành công cụ cạnh tranh mang tính bắt buộc (Sen và Egelhoff, 2000). Đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một hệ thống các chỉ tiêu phức tạp. Không có một chỉ tiêu đơn lẻ nào được sử dụng để đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cho dù đó là chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Một mô hình đo lường năng lực cạnh tranh đa yếu tố giúp cho doanh nghiệp xác định mục tiêu về hiệu quả hoạt động và đạt được cạnh tranh mạnh mẽ hơn (Bagozzi và Phillips, 1982, Chakravarthy, 1986, Chin và cộng sự, 2003).
Các nghiên cứu thường sử dụng một nhóm các chỉ tiêu để đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như: Thị phần, tốc độ tăng -9- trưởng doanh thu, tỷ lệ xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và tỷ lệ sản phẩm mới (Guan và cộng sự, 2006).2 Lược khảo các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp 2. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lực đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp Tiếp thu và đổi mới công nghệ có vai trò quan trọng trong phát triển và duy trì tăng trưởng bền vững. Các mô hình tăng trưởng kinh tế chỉ ra rằng không phải vốn hay lao động mà công nghệ mới là yếu tố quyết định tăng trưởng bền vững (Solow, 1956). Các doanh nghiệp hành động sớm có khả năng giành được lợi thế cạnh tranh trong ngành (Porter, 1998).
Các doanh nghiệp đi tiên phong trong tạo ra sản phẩm mới, sử dụng công nghệ mới có khả năng đạt được thành công trong đáp ứng các nhu cầu của thị trường và giành được lợi thế cạnh tranh, đặc biệt trong các ngành có lợi thế về quy mô. Đồng thời, những nhu cầu mới cũng thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến, đổi mới để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Tuy vậy, các doanh nghiệp đi tiên phong gặp nhiều khó khăn, rủi ro, phải đối mặt với nhiều trở ngại và doanh nghiệp đạt được thành công thường là các doanh nghiệp trải qua một quá trình khác thường. Không những vậy, các doanh nghiệp hành động sớm sẽ thất bại nếu họ không dự đoán được các thay đổi của ngành.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bắt nguồn từ việc sở hữu các nguồn lực đặc biệt như năng lực đổi mới mà không thể bắt chước hay thay thế (Guan và cộng sự, 2006). Đồng thời, năng lực đổi mới công nghệ có lợi cho doanh nghiệp và góp phần vào cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu cho thấy không đơn thuần là mối quan hệ tương quan mà là quan hệ nhân quả trong đó năng lực đổi mới công nghệ là yếu tố quyết định, nguồn lực chính nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trong dài hạn (Freeman, 1994). Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu về đổi mới, nghiên cứu phát triển tại các quốc gia đang phát triển cũng cho các kết quả khác nhau và ẩn chứa nhiều rủi ro.
Basant và Fikkerts (1996) cho rằng các doanh nghiệp tại Ấn Độ có kết quả kinh doanh tốt hơn khi thực hiện đổi mới bằng các công nghệ có sẵn thay vì thực hiện nghiên cứu và phát triển.