LỜI MỞ ĐẦU Khoa học và công nghệ ngày càng phát triển cùng với đó là có rất nhiều các bằng độc quyền sáng chế đƣợc cấp trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, việc khai thác các bằng sáng chế này còn kém hiệu quả. Thông tin sáng chế là các thông tin pháp lý và kỹ thuật có trong tài liệu sáng chế đƣợc cơ quan sáng chế công bố định kì. Đây là tập hợp dữ liệu về công nghệ đƣợc phân loại toàn diện nhất.
Vì vậy việc nghiên cứu và phát triển các giải pháp khai thác cơ sở dữ liệu sáng chế là cần thiết. Đối với các doanh nghiệp, thông tin sáng chế là rất hữu ích bởi đây là nguồn thông tin kỹ thuật duy nhất mà các doanh nghiệp có thể định hƣớng kế hoạch phát triển kinh doanh. Việc khai thác đƣợc thông tin sáng chế giúp các doanh nghiệp tránh các chi phí nghiên cứu không cần thiết về những gì đã biết, xác định và đánh giá công nghệ để chuyển giao, bắt kịp các công nghệ mới nhất trong lĩnh vực chuyên môn, tìm kiếm các ý tƣởng để tiếp tục đổi mới công nghệ. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu phát triển và đề xuất các giải pháp khai thác cơ sở dữ liệu sáng chế cho doanh nghiệp” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình.
Mục đích của luận văn là nghiên cứu và phát triển các giải pháp tổ chức, quản lý và cung cấp các dịch vụ khai thác cơ sở dữ liệu sáng chế phục vụ nhu cầu đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ vô cùng quý báu của TS. Trần Quang Vinh, ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn trong quá trình thực hiện luận văn này. Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo, bạn bè và các anh chị đồng nghiệp đã giúp đỡ để bản luận văn nàyhoàn thành.
Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Lƣơng Hồng Quý 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SÁNG CHẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN SÁNG CHẾ CHO DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về Bằng độc quyền sáng chế 1. Bằng độc quyền sáng chế là gì? Bằng độc quyền sáng chế là độc quyền đƣợc cấp để bảo hộ sáng chế. Bằng độc quyền sáng chế mang lại cho chủ sở hữu độc quyền ngăn cấm ngƣời khác khai thác thƣơng mại sáng chếtrong một thời hạn nhất định để đổi lại việc họ phải bộc lộ sáng chế cho công chúng.
Vì vậy, chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế (ngƣời đƣợc cấp hoặc chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế) có thể ngăn cấm ngƣời khác sản xuất, sử dụng, chào bán, bán hoặc nhập khẩu sáng chế đƣợc bảo hộ mà không có sự cho phép và có thể kiện ra toà bất kỳ ai khai thác sáng chế đƣợc bảo hộ mà không đƣợc phép của họ. Triết lý của hệ thống sở hữu trí tuệ là tƣởng thƣởng về tài chính thu đƣợc từ việc khai thác sáng chế và bộc lộ sáng chế để công chúng biết và sử dụng nhằm khuyến khích sự sáng tạo và nâng cao trình độ công nghệ của khu vực công nghiệp quốc gia, và những lợi ích rõ rệt về thƣơng mại. Một sự thật hiển nhiên là không phải tất cả các doanh nghiệp đều phát triển đƣợc sáng chế có khả năng bảo hộ thì cũng có sự hiểu lầm rằng bằng độc quyền sáng chế chỉ áp dụng đối với quy trình và sản phẩm hoá lý phức tạp, hoặc rằng chúng chỉ hữu ích cho các tập đoàn lớn. Nhìn chung, bằng độc quyền sáng chế có thể đƣợc cấp cho lĩnh vực công nghệ bất kỳ, từ cái kẹp giấy đến máy vi tính.
Hiện tại, có hàng ngàn bằng độc quyền sáng chế đã đƣợc cấp cho các sản phẩm đơn giản trong cuộc sống hàng ngày nhƣ bút, chai thuỷ tinh, sợi dệt hay xe đạp [1]. Độc quyền này đƣợc cấp trong một thời hạn nhất định, thƣờng là 20 năm kể từ ngày nộp đơn với điều kiện chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế phải nộp phí duy trì hiệu lực hằng năm, và chỉ có hiệu lực ở nƣớc mà chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế đăng ký bảo hộ. Việc bảo hộ pháp lý chống lại hành vi xâm phạm độc quyền sáng chế bất kỳ (xâm phạm) không có đƣợc một cách tự động, mà dựa trên đề nghị của chủ sở hữu 2 bằng độc quyền sáng chế. Do vậy, chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế cần phải giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp khác nếu muốn thực thi độc quyền sáng chế của mình.
Các tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế Bằng độc quyền sáng chế đƣợc cấp cho sáng chế. Vậy, sáng chế là gì? Nhìn chung, ở nhiều nƣớc, “sáng chế” là một giải pháp kỹ thuật dƣới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Vấn đề này có thể là cũ hay mới, nhƣng giải pháp kỹ thuật, để đủ điều kiện đƣợc gọi là sáng chế, phải là mới. Việc đơn thuần tìm ra một thứ bất kỳ đã tồn tại trong tự nhiên, mà chúng ta thƣờng gọi là phát minh, sẽ không phải là sáng chế.
Sáng chế cần có sự can thiệp của con ngƣời. Vì vậy, một chất đƣợc chiết xuất từ thực vật trong tự nhiên có thể là một sáng chế. Sáng chế không nhất thiết phải là một cái gì đó phức tạp hay công nghệ cao. Thậm chí cái kẹp giấy hay tăm xỉa răng cũng có thể là một sáng chế nếu nó giải quyết đƣợc một vấn đề kỹ thuật hiện tại.
Nói chung, để đƣợc cấp bằng độc quyền, một sáng chế phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau. Nó phải thuộc vào nhóm đối tượng có khả năng bảo hộ sáng chế. Nó phải là mới, nghĩa là có đặc tính mới nào đó mà chƣa đƣợc biết đến trong kho kiến thức hiện có thuộc lĩnh vựckỹ thuật của nó. Kho kiến thức này đƣợc gọi là “tình trạng kỹ thuật”.
Sáng chế phải có trình độ sáng tạo, nghĩa là nó không thể đƣợc tạo ra một cách dễ dàng bởi ngƣời bất kỳ có kiến thức trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật đó. Cuối cùng, nó phải có khả năng áp dụng công nghiệp. Tính mới Một sáng chế là mới (hay theo thuật ngữ trong pháp luật sáng chế), “có tính mới” nếu có sự khác biệt giữa sáng chế với kiến thức hiện có hoặc “giải pháp kỹ thuật đã biết”. Có sự khác nhau giữa các nƣớc về “giải pháp kỹ thuật đã biết”.
Sáng chế bất kỳ đƣợc thể hiện trong các tài liệu dạng giấy ở địa điểm bất kỳ trên thế giới hoặc đƣợc biết đến hoặc đƣợc sử dụng ở bất cứ nơi nào trên thế giới, đều cấu thành giải pháp kỹ thuật đã biết và do đó, sẽ làm mất tính mới của sáng chế. Do vậy, công 3 bố bản mô tả sáng chế trƣớc khi nộp đơn đăng ký có thể khiến sáng chế của bạn mất đi tính mới về mặt kỹ thuật và không đƣợc cấp bằng độc quyền sáng chế. Trình độ sáng tạo (tính không hiển nhiên) Sáng chế đƣợc coi là có “trình độ sáng tạo” nếu nó là không hiển nhiên đối với ngƣời bất kỳ có trình độ trong lĩnh vực lĩnh vực kỹ thuật của nó; nói cách khác, một chuyên gia có trình độ trung bình không thể tạo ra sáng chế theo một quy trình thông thƣờng. Đây là sự kiểm tra mang tính chủ quan và khó giải thích và khó áp dụng.
Có một số lƣợng đáng kể trƣờng hợp mà thẩm định viên và ngƣời nộp đơn hoặc luật sƣ sáng chế không đạt đƣợc sự nhất trí về trình độ sáng tạo của sáng chế và quyết định cuối cùng phải đƣợc đƣa ra tại toà án. Cũng có không ít các quyết định của thẩm định viên của cơ quan sáng chế bị toà án bác bỏ hay quyết định của toà án cấp dƣới bị toà án cấp trên bác bỏ. Khả năng áp dụng công nghiệp Sáng chế phải có khả năng đƣợc chế tạo ra hoặc đƣợc sử dụng trong ngành công nghiệp bất kỳ. Nghĩa là sáng chế phải mang hình dạng thực tế của một dụng cụ hay thiết bị, một sản phẩm nhƣ nguyên liệu hay chất liệu mới hoặc một quy trình công nghiệp hoặc phƣơng pháp vận hành.
Theo nghĩa rộng nhất, công nghiệp có nghĩa là hình thức hoạt động bất kỳ khác với hoạt động trí tuệ hoặc thẩm mỹ thuần túy. Bản thân một ý tƣởng không thể đƣợc bảo hộ sáng chế, trừ khi nó là một sáng chế đƣợc coi là có khả năng áp dụng công nghiệp. Khái niệm “công nghiệp” bao gồm cả “nông nghiệp”. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế Hơn nữa, không phải tất cả các sáng chế đều có khả năng đƣợc bảo hộ sáng chế.
Để đƣợc bảo hộ, sáng chế phải thuộc các đối tƣợng có khả năng đƣợc bảo hộ sáng chế. Phụ thuộc vào pháp luật về sáng chế của mỗi nƣớc, một trong số các đối tƣợng dƣới đây có thể không đƣợc bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế: • Các phát minh về vật liệu và chất có trong tự nhiên; • Lý thuyết khoa học hoặc phƣơng pháp toán học; 4 • Cây trồng hoặc vật nuôi (hoặc giống của chúng) mà không phải là chủng vi sinh hoặc các quy trình về cơ bản mang bản chất sinh học để sản xuất động vật hoặc thực vật (hoặc giống của chúng) mà không phải là quy trình vi sinh; • Kế hoạch, quy tắc hoặc phƣơng pháp để thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc thực hiện các hoạt động trí óc đơn thuần hoặc chơi trò chơi; • Phƣơng pháp chữa bệnh cho ngƣời và động vật, hoặc phƣơng pháp chẩn đoán đƣợc thực hiện trên ngƣời hoặc động vật (mà không phải là các sản phẩm sử dụng trong các phƣơng pháp đó); • Sáng chế bất kỳ nếu việc ngăn cấm khai thác thƣơng mại là cần thiết để bảo vệ trật tự xã hội, đạo đức hoặc sức khoẻ cộng đồng. Vai trò của thông tin sáng chế cho doanh nghiệp 1. Thông tin sáng chế là gì? Thông tin sáng chế là các thông tin k ỹ thuật, thông tin thƣơng mại và thông tin pháp lý có trong các tƣ liệu sáng chế đƣợc các cơ quan sáng chế quốc gia và các tổ chức sáng chế quốc tế công bố theo định kỳ.
Một tƣ liệu sáng chế bao gồm bản mô tả đầy đủ cách thức thực hiện sáng chế đƣợc cấp sáng chế và những yêu cầu bảo hộ xác định phạm vi bảo hộ cũng nhƣ các thông tin về ngƣời đƣợc cấp sáng chế, thời điểm cấp sáng chế và dẫn chiếu các tài liệu liên quan.