CHƯƠNG 1: MỞ - Mục tiêu nghiên cứu ĐẦU - Phạm vi và đóng góp của nghiên cứu - Định nghĩa, khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên CHƯƠNG 2: TỔNG cứu QUAN - Lược khảo các nghiên cứu liên quan - Quy trình nghiên cứu CHƯƠNG 3: - Phương pháp xây dựng mô hình PHƯƠNG PHÁP - Phương pháp tiến hành mô phỏng sự kiện rời rạc NGHIÊN CỨU - Công cụ nghiên cứu CHƯƠNG 4: XÂY Trình bày các kết quả cụ thể nghiên cứu, bao gồm: DỰNG MÔ HÌNH MÔ - Ví dụ minh hoạ và thu thập dữ liệu PHỎNG CÔNG TÁC - Các phương án cho từng mô hình để xác định mức HOÀN THIỆN SÀN độ hiệu quả CHƯƠNG 5: KẾT Kết luận về các kết quả đạt được, những lưu ý khi áp LUẬN VÀ KIẾN dụng kết quả, đồng thời nêu lên hạn chế của nghiên cứu NGHỊ và khuyến nghị những hướng nghiên cứu tiếp theo HVTH: PHẠM VĂN TIẾN – MS: 2170308 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tóm Tắt Chương Xây dựng tinh gọn Lãng phí Các định nghĩa, khái Mối quan hệ giữa xây niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu dựng tinh gọn và lãng phí Mô phỏng sự kiện rời rạc EZStrobe Lược khảo các nghiên Xây dựng tinh gọn cứu về vấn đề nghiên cứu Mô phỏng trong xây trước đây dựng tinh gọn Hình 2. Tóm tắt chương 2 2. Các định nghĩa, khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 2.
Khái niệm về xây dựng tinh gọn 2. Định nghĩa về tinh gọn Nguồn gốc của thuật ngữ tinh gọn (Lean) xuất hiện lần đầu trong cuốn Cỗ máy làm thay đổi Thế giới (The Machine that Changed the World) của Womack xuất bản năm 1990. Tuy nhiên, tư duy tinh gọn (Lean thinking) đã khởi thủy từ Hệ thống sản xuất Toyota (TPS) từ những năm 1950, nó được triển khai xuyên suốt các hoạt động của Toyota và được rất nhiều công ty, tập đoàn và tổ chức học hỏi và ứng dụng. Về cơ bản, tinh gọn có nghĩa là tạo ra đúng sản phẩm đúng lúc, đúng khối lượng, đúng nơi và đồng thời giảm thiểu lãng phí, trở nên linh hoạt và cởi mở với các thay đổi.
Hay đơn giản là tập trung vào sản xuất dựa trên nhu cầu của khách hàng (Dorval và Jobin, 2019; Bajjou và Chafi, 2018). Mục tiêu của sản xuất tinh gọn nói chung gồm: giảm phế phẩm và sự lãng phí; giảm chu kỳ sản xuất; giảm mức tồn kho; tăng năng suất lao động; tận dụng thiết bị HVTH: PHẠM VĂN TIẾN – MS: 2170308 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ và mặt bằng; tăng tính linh hoạt; và tăng sản lượng. Từ sản xuất tinh gọn, tư duy tinh gọn cùng các nguyên lý, công cụ, phương pháp đi kèm như 5S, thẻ báo (Kanban), ngăn chặn lỗi (poka-yoke), chuỗi một sản phẩm (one-piece flow), sơ đồ dòng chảy giá trị (value stream mapping) v.v… đã được áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực, trong đó có xây dựng. Xây dựng tinh gọn là một cách tiếp cận hướng tới việc thiết kế các hệ thống sản xuất để tối thiểu hóa việc lãng phí vật liệu, thời gian và nỗ lực trong xây dựng, nhằm tối đa hóa lợi ích cho khách hàng.
Xây dựng tinh gọn được thực hiện thông qua việc áp dụng các nguyên tắc xây dựng tinh gọn (lean construction principles) và sử dụng các phương pháp tinh gọn (lean tools). Nguyên tắc về tinh gọn Koskela (1992) đề xuất 11 nguyên tắc tinh gọn, bao gồm: - Giảm thiểu các hoạt động không tạo ra giá trị - Tăng giá trị của đầu ra - Giảm độ biến thiên - Giảm thời gian của chu kỳ - Tối thiểu hóa số lượng các bước, các bộ phận và các liên kết - Tăng độ linh hoạt của kết quả đầu ra - Tăng độ minh bạch của quá trình - Kiểm soát tập trung vào các quá trình hoàn thành - Thực hiện cải tiến liên tục cho các quá trình - Cân bằng việc cải tiến chuỗi với cải tiến chuyển đổi - So sánh chuẩn mực Chú trọng hơn đến mối quan hệ giữa xây dựng tinh gọn và giá trị dự án, một số tổ chức và chuyên gia khác chỉ ra 5 nguyên tắc của xây dựng tinh gọn, bao gồm: - Nhận dạng giá trị: Hiểu rõ các yêu cầu của khách hàng và đảm bảo rằng các tiêu chí kỹ thuật được thể hiện rõ ràng điều này làm cho khách hàng dễ dàng hiểu cái họ cần, khi nhu cầu được đáp ứng thì giá trị sẽ được cung cấp HVTH: PHẠM VĂN TIẾN – MS: 2170308 7 LUẬN VĂN THẠC SĨ - Sơ đồ dòng chảy giá trị: các công việc, vật liệu được chia nhỏ tới mức thấp nhất. Chi tiết kết quả quá trình được nhìn thấy và do đó giá trị từ mỗi chi tiết nhỏ đều được xác định. Các công việc không có giá trị sẽ bị xoá bỏ do không có đóng góp vào dòng chảy giá trị - Thiết lập dòng chảy: điều này đòi hỏi sự luân chuyển tài nguyên bao gồm của nguyên liệu và nhân lực.
Các tài nguyên này được sắp xếp sao cho sẽ có sẵn ở nơi cần sử dụng. Đây là sự sẵn có của các tổ đội khác nhau và sự thể hiện của việc hậu cần tốt - Thiết lập hệ thống “kéo”: không cần phải có hàng tồn kho. Các tài nguyên chỉ có mặt sẵn sàng ở thời điểm cần thiết với chất lượng được đáp ứng. Khi cần một nguồn lực cụ thể trong hệ thống, một tín hiệu được gửi đến nhà cung cấp để vận chuyển đến nơi cần tài nguyên - Theo đuổi sự hoàn hảo: việc cải tiến liên tục để giữ cho hệ thống trở nên tốt hơn.
Hướng tới sự hoàn hảo dẫn đến hệ thống sản xuất kéo dài và đạt được kết quả mà thậm chí là không thể trước đây Sự cần thiết có các công cụ/phương pháp nhằm đảm bảo các nguyên tắc tinh gọn được áp dụng một cách phù hợp vào các hoạt động xây dựng trong quá trình thực hiện dự án. Có nhiều công cụ/phương pháp được phát triển, nhưng phổ biến nhất là các công cụ: sản xuất tức thời, hệ thống kế hoạch từng bước, ngăn chặn lỗi sai và 5S. Lãng phí trong ngành xây dựng Lãng phí trong ngành xây dựng được phân loại theo các thuộc tính khác nhau như chủng loại, số lượng,. Mặc dù có các cách phân loại khác nhau nhưng phần lớn chúng đều theo một khái niệm cơ bản giống nhau.
Điểm chung giữa các cách phân loại này là hao hụt vật liệu, sản phẩm hư hỏng và lỗi thiết kế. Ví dụ, Shingo (1984) chia lãng phí trong xây dựng thành bảy loại theo nguyên nhân của nó. Những nguyên nhân này là do bản thân hệ thống, kho, vận hành, vận chuyển, thời gian chờ, sản xuất thừa và lỗi. Trong một nghiên cứu khác, Koskela (1992) đã liệt kê các khuyết tật, việc làm lại, lỗi thiết kế, thiếu sót, thay đổi thứ tự, chi phí an toàn và tiêu thụ quá mức vật HVTH: PHẠM VĂN TIẾN – MS: 2170308 8 LUẬN VĂN THẠC SĨ liệu là các nhóm chất thải xảy ra trong quá trình xây dựng.
Tổng quan về phân loại lãng phí từ tổng quan tài liệu có thể được nhìn thấy trong Hình 2. Nguyên nhân thường được Nguyên nhân thỉnh thoảng đề cập đến được đề cập Thời gian chờ đợi Sản xuất dư thừa Các khuyết tật Chi phí cho công tác an toàn Vật tư dư thừa Hao mòn trang thiết bị Lỗi thiết kế Thời gian nghỉ Quá trình vận chuyển, di Hoạt động sáng tạo chuyển vật tư Các công tác chậm trễ Làm rõ nhu cầu Quá trình vận hành Làm lại Dư thừa không gian thi công và kho Hình 2. Tổng quan về phân loại lãng phí 2. Mối quan hệ giữa xây dựng tinh gọn và lãng phí trong quy trình thi công Đối với tư duy xây dựng tinh gọn khuyến nghị một định nghĩa rộng hơn về lãng phí để bao gồm không chỉ lãng phí vật chất mà còn cả lãng phí liên quan đến bất kỳ sự kém hiệu quả nào của thiết bị hoặc hiệu suất của công nhân tạo ra trong quá trình xây dựng (chẳng hạn như thời gian chờ đợi và thời gian vận chuyển) (Farrar và cộng sự, 2004).
Trong nghiên cứu này, những loại lãng phí này được gọi là lãng phí quá trình xây dựng được thể hiện ở Hình 2. Trên thực tế, "lãng phí trong quy trình xây dựng" là một vấn đề quan trọng được xem xét nghiêm túc trong xây dựng tinh gọn. Loại lãng phí này có thể được chia thành hai loại chính: lãng phí phát sinh do bản HVTH: PHẠM VĂN TIẾN – MS: 2170308 9 LUẬN VĂN THẠC SĨ chất của các quá trình và lãng phí gây ra dưới dạng các hoạt động không gia tăng giá trị. Công trường Yếu tố bên ngoài Quy trình xây dựng Bản chất quá trình thi công Khoảng thời gian chờ Dư thừa vật tư xây dựng (sản xuất dư thừa, đợi chi phí an toàn, phế liệu) Hao mòn trang thiết bị Làm rõ nhu cầu Các công việc không tạo ra Thời gian nghỉ ngơi Lỗi thiết kế giá trị (thời gian vận chuyển, di dời vật tư thiết Dư thừa vật tư trên công trường bị; thời gian chờ đợi, thời gian tồn kho, thời gian nhàn Rác thải rỗi, lưu kho không cần thiết Hình 2.
Phân loại lãng phí Lãng phí không thể tránh khỏi được tạo ra do bản chất của các quy trình thi công xây dựng. Tỷ lệ phần trăm của nó phụ thuộc nhiều vào công ty và mức độ tiến bộ công nghệ. Trong hầu hết thời gian, việc giảm tỷ lệ lãng phí này không mang tính kinh tế đối với nhà thầu. Tuy nhiên, tái thiết kế và tổ chức lại quá trình xây dựng có thể mang lại hiệu quả.
Ngoài việc xem xét các lãng phí thông thường đã biết, tư duy xây dựng tinh gọn tập trung vào các hoạt động xây dựng tiêu tốn thời gian của công nhân và các nguồn lực khác, nhưng không tạo ra giá trị cho sản phẩm cuối cùng. Những loại hoạt động này được gọi là hoạt động không gia tăng giá trị hay hoạt động phi giá trị theo lý thuyết tư duy tinh gọn. Làm lại, vận chuyển, hàng tồn kho không cần thiết và quá nhiều cũng như thời gian chờ đợi của công nhân là những công việc chính không mang lại giá trị gia tăng trong quy trình. Nghiên cứu cho thấy rằng lãng phí do “công việc không gia tăng giá trị” chiếm một phần đáng kể trong hầu hết các quá trình xây dựng (ví dụ, xem Farrar và cộng sự, 2004; Dunlop và Smith, 2004; Al-Sudairi, 2007; Agbulos và AbouRizk, 2003; Narayanamurthy và cộng sự, 2017; Bajjou và cộng sự, 2017; Antony và cộng sự, 2012; Wang và cộng sự, 2009).
Nó thậm chí còn vượt quá 50% tổng số công việc trong một số trường hợp (Al-Sudairi, 2007).