CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ VÀ VIỆC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA DOANH NGHIỆP 1. Chuỗi giá trị toàn cầu 1. Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu Chuỗi giá trị được coi là đặc tính của thương mại quốc tế ngày nay. Hiểu một cách đơn giản, chuỗi giá trị là chuỗi hoạt động mà một công ty hoạt động trong một ngành cụ thể cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ.
Chuỗi giá trị của ngành (hay còn gọi là chuỗi cung ứng), được thực hiện theo hệ thống mạng lưới các công ty, gồm các quá trình liên quan tới sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Hiện nay trên thế giới đang tồn tại nhiều quan điểm về GVC. Những nghiên cứu đầu tiên từ năm 2000 đặt nền móng cho khái niệm GVC thường chú trọng tới “giá trị gia tăng trong thương mại”, thuật ngữ được ra đời cùng với hiện tượng chuyên môn hóa theo chiều dọc. “Giá trị giá tăng trong thương mại được hiểu là giá trị hàng hóa trung gian nhập khẩu có trong giá trị hàng hóa xuất khẩu của quốc gia” (Hummels và cộng sự, 2001), hay hàm lượng nhập khẩu có trong xuất khẩu.
Những nghiên cứu thực nghiệm của Daudin và cộng sự (2010), Escaith (2014b) và Koopman và cộng sự (2010) kiểm định quan điểm trên đều tuân thủ theo mô hình bảng I - O (Input - output framework). Cách đo lường theo giá trị gia tăng trong thương mại chỉ thể hiện một phần của GVC, bởi nó bỏ qua các bước sản xuất đối đa hóa hàm lượng ngoại nhập. Trong khi đó, Johnson và Noguera (2012) tiếp cận theo hướng “giá trị gia tăng xuất khẩu, là giá trị gia tăng được sản xuất trong nước và được đối tác bạn hàng chấp nhận”. Johnson sử dụng chỉ số giá trị gia tăng trên tổng kim ngạch xuất khẩu (còn gọi là VAX), nhấn mạnh vai trò sản xuất liên ngành đóng góp vào giá trị xuất khẩu.
Nhóm quan điểm thứ hai bổ sung thêm lý thuyết về GVC. Koopman và cộng sự (2010) vẫn tuân thủ lý thuyết nền tảng về GVC phải bao gồm hàm lượng nhập khẩu có trong xuất khẩu (giá trị quá khứ - backward participation), nhưng bổ sung thêm phần giá trị gia tăng nội địa (domestic value added), chính là phần đầu vào trung gian được sử dụng ở quốc gia thứ ba để xuất khẩu tiếp (giá trị tương lai - forward participation). Quan điểm này của Koopman hoàn toàn thống nhất với định nghĩa về GVC của OECD (2013) coi “GVC là toàn bộ quá trình sản xuất hàng hóa, từ nguyên liệu thô cho tới thành phẩm, được thực hiện ở bất cứ nơi nào mà kỹ năng và nguyên liệu cần thiết để sản xuất đều có 9 sẵn tại mức giá cả cạnh tranh cũng như đảm bảo chất lượng thành phẩm”. Định nghĩa của OECD còn chú trọng tới thương mại dịch vụ, được coi là nhân tố cốt yếu để đảm bảo chức năng hiệu quả trong GVC.
Thương mại dịch vụ không những liên quan giữa các quốc gia, mà còn giúp các công ty gia tăng giá trị sản phẩm. Sáng kiến chung giữa OECD - WTO (TiVA) tập trung nghiên cứu giá trị gia tăng thương mại và dịch vụ của từng quốc gia được tiêu dùng khắp thế giới. TiVA còn được sử dụng như là thông tin đầu vào cho các nhà hoạch định chính sách xem xét chính sách thương mại của chính quốc gia mình. Một khái niệm khác liên quan tới GVC trong mối liên hệ giữa công ty, ngành sản xuất, quốc gia, là kết quả của quá trình phân tán sản xuất (Coe and Hass, 2007).
Theo đó GVC được hiểu là trình tự của hoạt động sản xuất, tạo ra sản phẩm cuối cùng cho người sử dụng cuối cùng, trong đó hoạt động sản xuất gắn chặt với mối quan hệ giữa các công ty. Khái niệm tập trung vào mối quan hệ giữa nhà cung ứng trong nước - nước ngoài, công ty mẹ - chi nhánh nước ngoài, hoạt động outsourcing và offsourcing. Như vậy có thể thấy rằng các khái niệm về GVC đều đề cập đến quá trình sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm cuối cùng từ nguồn nguyên liệu thô mà trong đó có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau. Trong nội dung nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp cận GVC theo góc độ “chuỗi giá trị toàn cầu được hiểu là chuỗi cung ứng thương mại, gắn với quá trình sản xuất hàng hóa, trong đó các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là tham gia thương mại cả hai chiều gồm nhập khẩu đầu vào để sản xuất và xuất khẩu đầu ra cho thị trường nước ngoài”.
Sự hình thành và phát triển chuỗi giá trị toàn cầu Trước đây, khi thương mại quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa chưa phát triển, hầu hết các dây chuyền sản xuất thường chỉ được gói gọn trong phạm vi một quốc gia. Tuy nhiên, cùng với sự bùng nổ của thương mại quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa mạnh mẽ trong hơn 40 năm qua, các dây chuyền sản xuất đã trở nên ngày càng phức tạp, với mạng lưới chuỗi cung ứng trải rộng ra nhiều nền kinh tế. Các sản phẩm ngày nay thay vì được sản xuất bởi một quốc gia đơn lẻ thì có thể nói là được “sản xuất bởi thế giới”, giá trị sản phẩm cuối cùng được tăng thêm thông qua mỗi công đoạn ở các quốc gia khác nhau (OECD, 2013) mà chúng ta còn gọi đó là GVC. Grossman và Rossi-Hansberg (2006) sử dụng thuật ngữ “Thương mại nhiệm vụ” (Task trade) đề cập tới quá trình các quốc gia tham gia vào các khâu khác nhau của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Các doanh nghiệp ở các quốc gia phát triển và đang phát triển đều 10 góp phần làm gia tăng giá trị dọc theo chuỗi cung ứng toàn cầu với việc thực hiện một khâu cụ thể của quá trình sản xuất như sản xuất một bộ phận hoặc linh kiện của sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ trung gian cần thiết cho các khâu tiếp theo của quá trình sản xuất. Thương mại nhiệm vụ có thể được thực hiện thông qua hợp đồng giữa các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau, hoặc thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, hoặc các thỏa thuận kết hợp của hai hình thức trên. Trong một vài thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới sản xuất toàn cầu. Luồng thông tin cập nhật, sự kết nối và vận chuyển hàng hóa hiệu quả hơn đã giúp các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng dễ dàng hợp tác hơn dù ở khoảng cách rất xa nhau.
Những sự phát triển của công nghệ, kèm theo sự cải cách trong các chính sách thương mại (ví dụ như cắt giảm hàng rào thuế quan), cũng như khả năng tiếp cận các nguồn lực và thị trường đã thúc đẩy hội nhập và tăng tốc hoạt động kinh tế xuyên biên giới quốc gia, và đồng thời kết nối các doanh nghiệp, người lao động và người tiêu dùng khắp nơi trên thế giới (Sturgeon, 2013; OECD, 2013). Đo lường chuỗi giá trị toàn cầu Cho đến nay, chưa có sự thống nhất trên toàn thế giới về phương pháp đo lường giá trị gia tăng trong thương mại nói riêng, bởi vì hướng dẫn chung đo lường thương mại quốc tế tập trung vào giá trị hàng hóa và dịch vụ (số tổng cuối cùng xuất khẩu hoặc nhập khẩu). Hơn nữa, cũng không thể sử dụng số liệu thống kê chính thống của từng nước trực tiếp đo lường giá trị gia tăng trong thương mại, bởi số liệu thống kê lại nhìn nhận trên cơ sở thu nhập (hoặc chi tiêu) của người cư trú với chi tiêu (hoặc thu nhập) của người không cư trú; số liệu thống kê lại tính cả phần giá trị nhập khẩu trong giá trị xuất khẩu, hoặc không đo lường được hàm lượng địa phương có trong giá trị nhập khẩu, kể cả số lượng có thể thấy từ nguồn của đối tác thương mại khác chứ không phải phần giá trị gia tăng. Hầu hết các nghiên cứu đo lường “giá trị gia tăng trong thương mại” (Trade in value - added) bằng cách sử dụng bảng đầu vào - đầu ra (International input - output), tính toán giá trị gia tăng trong thương mại hoàn toàn phụ thuộc vào ma trận nghịch đảo Leontief theo bảng đầu vào - đầu ra, tích hợp tài khoản quốc gia và dữ liệu thống kê thương mại song phương.
Phương pháp đo lường “giá trị gia tăng trong thương mại” của từng ngành và của từng nước trong chuỗi cung ứng. 11 Theo Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA 1993): “Giá trị gia tăng phản ánh giá trị được đóng góp thêm bởi ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ, được tính bằng chênh lệch giữa giá trị sản lượng theo giá cơ bản (basic prices) và tổng giá trị hàng hóa đầu vào trung gian theo giá mua của hàng hóa và dịch vụ đó”. Giá trị gia tăng chính là tiền lương và chi phí vốn, nhưng không bao gồm thuế để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ. Bảng đầu vào - đầu ra phản ánh mối quan hệ giữa ngành sản xuất trong nước và giữa ngành sản xuất với các hạng mục tổng cầu cuối cùng (bao gồm hộ gia đình, chính phủ, đầu tư, xuất khẩu).
Hơn nữa, bảng đầu vào - đầu ra phản ánh giá trị hàng hóa trung gian nhập khẩu được sử dụng sản xuất hàng hóa và dịch vụ, và hàng hóa giá trị hàng hóa nhập khẩu cuối cùng được tiêu dùng như thế nào. Mô hình Leontief cho biết tổng sản lượng của một quốc gia hay sản lượng toàn cầu được tính bằng tổng tiêu dùng hàng hóa trung gian (đầu vào được sử dụng cho sản xuất) và nhu cầu tiêu dùng cuối cùng (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) cụ thể như sau: X = AX + Y (1) X = [(I - A)-1]Y Trong đó: Y là véc tơ (n x 1) tổng cầu cuối cùng và X là véc tơ (n x 1) tổng sản lượng. n là tổng số ngành sản xuất. A là ma trận hệ số kỹ thuật, được tính chuẩn hóa các hệ số trung gian Zij theo giá trị tổng sản lượng (aij = Zij/Xi).