Chương 1: KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ DỊCH VỤ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ. Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI. Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI. 15 CHƢƠNG 1 KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ DỊCH VỤ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP QUA MẠNG ĐIỆN TỬ 1.
Một số lý thuyết về dịch vụ công 1.1 Khái niệm dịch vụ công Hiện nay, có nhiểu các hiểu về dịch vụ công, theo như ý nghĩa kinh tế học, Dịch vụ công (từ tiếng Anh là “public service”) có quan hệ chặt chẽ với phạp trù hàng hóa công cộng. Hàng hóa công cộng có một số đặc tính cơ bản như: 1. là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; 2. việc tiêu dùng của người này không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác; 3.
và không thể vứt bỏ được, tức là ngay khi không được tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn tồn tại. Nói một cách giản đơn, thì những hàng hóa nào thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng thuần túy, và những hàng hóa nào không thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng không thuần túy. Và cũng từ một số khái niệm khác, các dịch vụ công cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư và nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội. Ngay cả khi nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường.
Từ những lý thuyết trên, dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do nhà 16 nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện. Phân loại và đặc điểm của dịch vụ công Xét dựa trên tính chất và tác dụng dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch vụ công thành các loại như sau: - Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân. Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công. Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước.
Để thực hiện chức năng này, nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,… Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước. Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước. - Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội… - Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai. chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện.
Đối với từng loại dịch vụ công thường sẽ có các đặc điểm riêng biệt, tính chất khác nhau, tuy nhiên tất cả các dịch vụ công đều có những đặc điểm cơ bản như sau: 17 - Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi. - Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là hàng hóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật. - Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước.
Cũng có những dịch vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận. - Từ góc độ kinh tế học, dịch vụ công là các hoạt động cung ứng cho xã hội một loại hàng hoá công cộng. Loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này. Dịch vụ Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử Đối với mỗi một doanh nghiệp, để gia nhập thị trường và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có rất nhiều điều kiện, ví dụ yêu cầu về vốn, địa điểm, phương án kinh doanh, yêu cầu về việc tổ chức, thành lập, quản lý một doanh nghiệp.
Tuy nhiên, điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất khi doanh nghiệp muốn tham gia thị trường là cần phải thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục đích ghi nhận sự ra đời của doanh nghiệp như một thực thể pháp lý độc lập. Đồng thời, đây 18 là thủ tục gắn liền đối với mỗi doanh nghiệp mỗi khi thực hiện thay đổi và cho đến khi kết thúc hoạt động của doanh nghiệp. Khái niệm Đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục pháp lý, trong đó doanh nghiệp thực hiện đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan đăng ký kinh doanh) nhằm ghi nhận sự ra đời/thay đổi của doanh nghiệp và xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp trên thị trường. Và trong Luật Doanh nghiệp 2014 mới được Quốc hội ban hành ngày 26/11/2014 và có hiệu lực từ 01/07/2015 thì thủ tục đăng ký doanh nghiệp có thể được hiểu là bao gồm nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư.
Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp, thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các thủ tục liên quan đến giải thể, tạm ngừng, hoạt động trở lại của doanh nghiệp. Năm 2007, chương trình “Chương trình cải cách đăng ký kinh doanh quốc gia” chính thức được triển khai với sợ phối hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư với cơ quan Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) với mục tiêu chính là cải cách công tác đăng ký kinh doanh tại Việt Nam theo hướng công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cụ thể tại Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP ngày 30/11/2007 của Chính phủ, Chương trình cải cách đăng ký kinh doanh quốc gia bao gồm hai nội dung chính là hoàn thiện khung khổ pháp lý về đăng ký kinh doanh và xây dựng hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp nhằm tin học hóa công tác đăng ký kinh doanh trên phạm vi toàn quốc. Ngày 15/04/2010, Chính phủban hànhNghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.
Ngoài ra năm 2011, Chính phủ cũng có Đề án áp dụng công nghệ thông tin vào công tác đăng ký doanh nghiệp 19 trên toàn quốc. Đây có thể được coi là những tiền đề ban đầu trong công tác triển khai dịch vụ Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử. Theo quy định tại Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp thì: “Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử là việc người thành lập doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia” Hiện nay, nếu xét theo góc độ phương thức nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, có thể phân chia thành: Biểu đồ 1.1: Hình thức đăng ký doanh nghiệp Trong đó: - Đăng ký doanh nghiệp truyền thống được hiểu là hình thức đăng ký doanh nghiệp bằng phương thức nộp hồ sơ bản giấy, doanh nghiệp sẽ nộp trực tiếp tại cơ quan Đăng ký kinh doanh. - Đăng ký doanh nghiệp qua mạng là hình thức đăng ký doanh nghiệp mới, theo đó, doanh nghiệp sẽ trực tiếp đăng ký các thông tin của doanh nghiệp mình thông qua mạng, các thông tin điện tử đó sẽ được gửi tời cơ quan Đăng ký kinh doanh và cơ quan Đăng ký kinh doanh sẽ xử lý hồ sơ dựa trên các thông tin này.
20 Và trong bài nghiên cứu cũng như việc cung cấp dịch vụ đăng ký qua mạng điện tử hiện nay đang chỉ giới hạn với 02 hình thức đăng ký doanh nghiệp chính là: - Đăng ký thành lập mới doanh nghiệp: là hình thức giành cho các cá nhân, tổ chức có ý định hình thành doanh nghiệp, theo đó, các cá nhân, tổ chức sẽ đi đăng ký với cơ quan Đăng ký kinh doanh có thẩm quyền để hình thành doanh nghiệp. - Đăng ký thay đổi doanh nghiệp: là hình thức giành cho các doanh nghiệp có nhu cầu đăng ký thay đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp như thay đổi vốn, thành viên, địa chỉ, chuyển đổi loại hình… Một doanh nghiệp có thể đăng ký thay đổi nhiều lần tùy theo nhu cầu của doanh nghiệp. Trên thực tế, ngoài 2 hình thức đăng ký doanh nghiệp trên thì còn có các hình thức đăng ký doanh nghiệp khác như: tạm ngừng, hoạt động trở lại, chia, tách, sáp nhập doanh nghiệp và giải thể.