Chương 1: Trong chương này tác giả nêu rõ lý do lựa chọn đề tài và trình bày cụ thể mục tiêu nghiên cứu. Bài nghiên cứu trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đạt được mục tiêu nghiên cứu được nêu ra thông qua câu hỏi nghiên cứu.Ngoài ra bài nghiên cứu còn trình bày ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Trong chương này tác giả trình bày những lý thuyết cơ bản về tâm lý nhà đầu tư, các quan niệm về tâm lý nhà đầu tư cũng như tâm lý của nhà đầu tư khi đưa ra các quyết định đầu tư. Bên cạnh đó tác giả cũng trình bày các bài nghiên 6 cứu liên quan đến tâm lý nhà đầu tư và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ở trong và ngoài nước.
Chương 3: Tác giả trình bày phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu, mô hình và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu được trình bày ở chương này, gồm có kiểm định tính dừng, kiểm định mối quan hệ giữa tâm lý nhà đầu tư và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ở các phân nhóm được chia theo giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu, tỷ lệ giá trị sổ sách và giá trị thị trường, hệ số beta dưới sự ảnh hưởng của những yếu tố kinh tế vĩ mô và đặc điểm doanh nghiệp. Chương 5: Chương này trình bày tóm gọn những kết quả của bài nghiên cứu cũng như những hạn chế của đề tài, từ đó đưa ra những gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo. Tóm tắt chương1 Chương này cung cấp cái nhìn sơ lược về toàn bộ bài nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày lý do lựa chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu cụ thể, phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đạt được mục tiêu nghiên cứu được nêu ra thông qua câu hỏi nghiên cứu.
Ngoài ra bài nghiên cứu còn trình bày ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. 7 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Lý thuyết về tâm lý nhà đầu tư 2.1 Tâm lý quá tự tin (overconfidence) Tâm lý học đã xác định rằng mọi người thường quá tự tin về bản thân, khiến cho người ta đánh giá quá cao kiến thức của họ, đánh giá thấp rủi ro, và khả năng kiểm soát các sự kiện cao hơn so với thực tế Nofsinger (2001). Các nhà đầu tư quá tự tin thường tin rằng họ thông minh hơn và có thông tin tốt hơn khả năng thực tế Pompian (2006). Terrance Odean (1998) thấy rằng các nhà đầu tư quá tự tin có xu hướng tin rằng họ có khả năng chọn cổ phiếu tốt hơn cũng như thời gian gia nhập thị trường hay rút khỏi thị trường tốt nhất; và vì thế, họ thường tiến hành nhiều giao dịch hơn những nhà đầu tư khác.
Sự quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nhà đầu tư luôn sẵn sàng bảo vệ quan điểm của họ, không cần tham khảo thêm những quan điểm thích đáng của những nhà đầu tư khác. Tuy nhiên, Odean cũng tìm thấy rằng những nhà đầu tư đó thường nhận được tỷ suất sinh lợi thấp hơn. Glaser và Weber (2003), Grinblatt và Keloharju (2009) đã có những nghiên cứu thực nghiệm về lý thuyết giao dịch quá mức, và kết quả những nghiên cứu này đã cho thấy thái độ tự tin quá mức của nhà đầu tư ảnh hưởng đến tần suất và khối lượng giao dịch. Những nhà đầu tư có mức độ tự tin cao thì có khuynh hướng giao dịch với khối lượng lớn (Glaser và Weber, 2003).
Việc giao dịch nhiều lại làm cho chi phí giao dịch tăng lên, và có thể làm giảm hiệu quả của nhà đầu tư khi trừ đi chi phí. Nghiên cứu của James Montier (2007) cũng có kết quả tương tự. Đồng thời, các nhà đầu tư quá tự tin cũng cho rằng hành động của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu tư khác.Nhiều khi nhà đầu tư quá tự tin hiểu sai giá trị thông tin họ nhận được, không những tính chính xác của thông tin mà còn hiểu sai cả ý nghĩa của thông tin.Sự cả tin thái quá mà một người có càng lớn thì rủi ro càng cao và nhà đầu tư ít đa dạng hóa danh mục đầu tư, chỉ tập trung vào những cổ phiếu mà họ cho là mình đã quen thuộc Shiller (2000), Barberis và Thaler (2002).2 Tâm lý bầy đàn (Herd Behavior) Một quan sát cơ bản về xã hội con người cho thấy con người có mối liên hệ giao tiếp với người khác có cùng suy nghĩ. Điều này khá quan trọng để hiểu nguồn gốc của sự suy nghĩ tương tự nhau dưới tác động của các mối quan hệ giao tiếp, dẫn đến những hành động giống nhau trong cùng một khoảng thời gian và làm thay đổi giá cả các tài sản.
Ảnh hưởng xã hội có một tác động rất lớn lên phán đoán cá nhân. Khi phải đối mặt với một tình huống mà nhà đầu tư cho rằng quyết định trở nên không chắc chắn thì ảnh hưởng hành vi và quan điểm của đám đông sẽ làm cho các cá nhân cảm thấy chắc chắn hơn. Tuy nhiên, tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của con người cũng như nhà đầu tư, không phân biệt việc có kinh nghiệm hay không.Và lý thuyết ảnh hưởng tâm lý đám đông này càng rõ nét khi nhà đầu tư buộc phải đưa ra các quyết định nhanh chóng khi chưa có đầy đủ thông tin cần thiết. Khi con người đối đầu với phán đoán của một nhóm lớn, họ có xu hướng thay đổi suy nghĩ của họ.
Hoặc vì hầu hết mọi người đều chịu tác động của áp lực xã hội, thay đổi để hòa đồng, thừa nhận là giống với đám đông.Hoặc dựa trên kinh nghiệm, họ cho rằng hành động hay suy nghĩ của đám đông thường không sai, tin rằng có thể đám động biết một điều gì đó mà họ không biết. Hầu hết mọi người đều cảm thấy an toàn hơn khi hành động và suy nghĩ theo đám đông. Angela Filip (2015) đã có nghiên cứu về sự tồn tại hành vi bầy đàn của nhà đầu tư khi đưa ra quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán. Các quyết định đầu tư theo xu hướng đám đông có thể dẫn đến định giá sai giá trị của cổ phiếu, là nguyên nhân gây ra hiện tượng bong bóng đầu cơ.
Lý thuyết về các yếu tố tâm lý cho rằng “hiệu ứng tâm lý bầy đàn” là khá phổ biến ở các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, và đặc biệt là các nhà đầu tư ít kinh nghiệm.Khi các nhà đầu tư phân tích thị trường và có nhận định đúng giống 9 nhau, thị trường cùng dịch chuyển về một hướng, có thể khiến cho thị trường đạt tính hiệu quả nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, nếu các nhà đầu tư này lại có cùng hành động theo một mẫu hình có hành vi lệch lạc, không hợp lý sẽ khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị thực hay hợp lý của chúng, và có thể đóng vai trò trong việc gây ra tình trạng đầu cơ bong bóng. Có nhiều nhân tố tác động đến hành vi bầy đàn của một nhà đầu tư, ví dụ như quá tự tin, khối lượng cổ phiếu giao dịch, thời hạn nắm giữ cổ phiếu,… Các nhà đầu tư càng tự tin thì họ càng dựa trên những phán đoán cá nhân và những thông tin riêng để đưa ra quyết định đầu tư. Những nhà đầu tư này tin tưởng vào sự am hiểu và lý trí của mình, vì vậy họ sẽ phớt lờ xu hướng của đám đông hoặc ít quan tâm đến các hành vi bầy đàn.
Khi các nhà đầu tư đặt một số lượng vốn lớn vào các khoản đầu tư của họ, hoặc với kinh nghiệm ít, họ có khuynh hướng đi theo hành động của đám đông để giảm thiểu rủi ro, ít nhất theo suy nghĩ của họ khi một nhóm lớn nhất trí trong phán đoán thì họ chắc chắn đúng. Bên cạnh đó, tâm lý bầy đàn cũng tùy thuộc vào kiểu nhà đầu tư, các nhà đầu tư cá nhân sẽ có khuynh hướng đi theo đám đông hơn là các nhà đầu tư tổ chức khi ra quyết định đầu tư. (Goodfellow, Bohl và Gebka, 2009, p. Chiang và cộng sự (2011) cho rằng tương quan cùng chiều với tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và tương quan âm với biến động thị trường.3 Thái độ với rủi ro (Psychology of Risk) Theo Markowitz, rủi ro là mức độ bất ổn của tỷ suất sinh lợi; được biết đến với nguyên tắc chủ yếu là: rủi ro cao sẽ đem lại tỷ suất sinh lợi cao, như là sự đánh đổi giữa rủi ro – tỷ suất sinh lợi trong các mô hình định giá tài sản, điển hình như CAPM, APT.
Mọi người không thích rủi ro nhưng họ sẽ chấp nhận rủi ro ở mức độ khác nhau (tùy vào khẩu vị rủi ro).Bài nghiên cứu của Thomas C. Chiang (2012) cho thấy rằng, thái độ với rủi ro tác động cùng chiều với tỷ suất sinh lợi của những 10 cổ phiếu có tỷ suất sinh lợi thấp.Ủng hộ với điều này Bali (2004) tìm thấy bằng chứng về mối tương quan dương mạnh giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu khoán và rủi ro. Thái độ đối với rủi ro là sự khác biệt trong tỷ suất sinh lợi mong đợi của nhà đầu tư trong tương lai qua đánh đổi rủi ro. Nếu có hai lựa chọn với cùng một tỷ suất sinh lợi, nhà đầu tư đương nhiên sẽ lựa chọn phương án có mức rủi ro thấp hơn.
Tuy nhiên, khả năng chấp nhận rủi ro của các nhà đầu tư phản ánh thái độ của họ đối với rủi ro. Có những nhà đầu tư sẵn lòng lựa chọn những cơ hội mang tính rủi ro cao nếu đi kèm là tỷ suất sinh lợi cao. Ta có thể thấy điều này phù hợp với nhiều hoàn cảnh thực tế. Các cá nhân không thích rủi ro sẽ dùng mọi nguồn lực để tìm ra những cách làm giảm rủi ro.
Họ chính là những khách hàng lớn của ngành bảo hiểm, là những người sẵn sàng trả tiền để thoát khỏi một số rủi ro mà môi trường tự nhiên và xã hội gây ra. Ngược lại, các cá nhân chấp nhận rủi ro ở mức độ cao, ít sợ rủi ro hơn sẽ nhận những khoản thưởng cho đều này từ chính những người không thích rủi ro. Tính không cân xứng trong tâm lý rõ ràng giữa những giá trị mà con người kỳ vọng vào lợi nhuận và thua lỗ, được gọi là sự không ưa thích rủi ro. Những bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng thua lỗ thì được cân nặng gấp nhiều lần so với lợi nhuận.