CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về chi nhân sâm 1. Hệ thống phân loại chi nhân sâm Chi nhân sâm (danh pháp khoa học: Panax) là một chi chứa khoảng 11 loài cây có củ phát triển rất chậm thuộc họ nhân sâm (Bảng 1. Các loài thuộc chi Panax trên thế giới [131] Tên khoa học Tên thông thường Nguồn gốc Panax bipinnatifidus Nhân sâm Himalaya Myanma, Trung (Himalayan ginseng) Quốc, Ấn Độ, Nepal Panax ginseng C.Meyer Nhân sâm (Asia ginseng) Hàn Quốc Panax japonicus Nhân sâm Nhật bản (Japanese Nhật Bản C.Meyer ginseng) Panax notoginseng Tam thất (Sanchi ginseng) Trung Quốc F.Chen (Yunnan) Panax pseudoginseng Wall Giả nhân sâm (Nepal ginseng) Trung Quốc (Xizang) Panax quinquefolius L.
Sâm Mỹ (American ginseng) Bắc Mỹ Panax stipuleanatus Bái tử (Ye-sanchi ginseng) Trung Quốc H.Feng (Yunnan), Việt Nam Panax trifolius L. Sâm lùn (Dwarf, Peanut Bắc Mỹ ginseng) Panax vietnamensis Ha et Sâm Ngọc Linh (Vietnamese Việt Nam Grushv. ginseng) Panax wangianus S.Sun (Wang’s Sanqi) Trung Quốc Panax zingiberensis Sâm Gừng (Ginger ginseng) Trung Quốc C.Wu et Feng (Yunnan) Các loài thuộc chi nhân sâm đã được biết đến và sử dụng từ rất sớm trong y học cổ truyền với tác dụng phục hồi sự suy giảm chức năng và đưa hoạt động của cơ thể trở lại bình thường. Trong đó, loại sâm được biết và sử dụng nhiều nhất là sâm Triều Tiên, cây thuốc bổ hàng đầu của y học cổ truyền phương đông.
Ngày nay, với 6 các hiểu biết trên dược tính của các loài thuộc chi Panax, cây sâm ngày càng được sử dụng rộng rãi trong y học và các ngành hóa mỹ phẩm. Đặc điểm thực vật Cây nhỏ, cao 30 - 50 cm có thể sống trên 50 năm. Cây mang ở ngọn một vòng 4 - 5 lá. Cuống lá dài, lá kép chân chim, mép lá có răng cưa.
Hoa màu trắng nhạt hợp thành tán đơn. Quả hạch, màu đỏ gần hình cầu. Rễ củ phân thành nhiều nhánh giống như hình người nên có tên là nhân sâm. Cây mọc hoang dại và được trồng ở đông bắc Trung Quốc, Triều Tiên, Nga [87].
Thành phần hóa học Thành phần chính là saponin triterpenoid tetracyclic nhóm dammarane gọi chung là ginsenoside. Phần aglycon là protopanaxadiol va protopanaxatriol. Trong rễ nhân sâm còn có saponin với aglycon là acid oleanolic: Ginsenoside Ro (acid oleanolic) + 2 glucose + acid glucuronic). Các thành phần khác: Hợp chất polyacetylen, tinh dầu 0 - 0,5%, 25% vitamin B1, B2, các phytosterol 0,029%, glycan.
Lá cũng có chứa saponin loại dammarane là ginsenoside-Rb1, -Rb2, -Rc, -F2, -Re, -Rg1, -F1, F3. Giá trị kinh tế và y học của cây nhân sâm 1. Giá trị kinh tế Từ hàng nghìn năm nay, nhân sâm luôn là cây thuốc cổ truyền hàng đầu của phương Đông. Nhân sâm có giá trị rất cao, trong những giai đoạn thị trường phát triển, chỉ một mình Trung Quốc đã thu trên 12 triệu USD một năm.
Thị trường của nhân sâm đang mở rộng về phía tây và hứa hẹn một nguồn lợi lớn hơn nữa. Năm 1993, Hội đồng Thực vật Mỹ (American Botanical Council) đã thống kê có khoảng trên 500 sản phẩm nhân sâm thương mại lưu hành ở thị trường Bắc Mỹ. Châu Á cũng nhập khẩu sâm Mỹ với số lượng lớn. Năm 1997, Mỹ xuất khẩu hợp pháp sang Châu Á 527.547 kg sâm trồng và 22.929 kg sâm hoang dã.
Đến năm 1998, Mỹ đã xuất khẩu gần 2 triệu kg. Lượng sâm Mỹ sản xuất tổng cộng của Canada cũng lên đến 4. Giá của rễ sâm Mỹ ở thị trường là 20 - 45 USD/kg. Nhân sâm trong y học cổ truyền Nhân sâm dùng làm thuốc bổ: trị các chứng bệnh như tư âm, kiện tỳ, dưỡng huyết, bổ khí, làm đen tóc, làm chắc răng, gia tăng tuổi thọ; dùng làm thuốc giải độc: 7 trị các chứng bệnh như tiêu độc và dùng điều trị: bệnh tim, hô hấp, bệnh gan, tiết niệu, đau bụng, thấp khớp, tai, mũi, họng [2].
Nhân sâm trong y học hiện đại Dược chất chính của nhân sâm Panax ginseng C. Meyer là ginsenoside (triterpenic dammaranic saponin). Hai nhóm ginsenoside chính là Rb và Rg có nhóm 20(S) – protopanaxadiol và 20(S) – protopanaxatriol là nhóm sapogenin. Ginsenoside chính của nhóm Rb là Rb1, Rb2, Rc và Rd.
Ginsenoside của nhóm Rg là Re, Rf và Rg1. Trong đó, hai ginsenoside quan trọng nhất là Rb1 và Rg1 [114]. Ginsenoside nhóm Rb và Rg có những tính chất dược lý khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Do đó, cần phân tích chính xác thành phần dược chất để xác định chính xác tác dụng y học khi dùng điều trị.
Trong y học hiện đại nhân sâm thể hiện các tác dụng: tăng lực, hồi phục sức, thể hiện tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương, cải thiện trí nhớ, chống stress, giải lo âu và chống trầm cảm, chống oxy hóa và chống lão hóa, bảo vệ gan, điều hòa miễn dịch, chống ung thư, hạ glucose huyết, giảm đau, giải độc. Tác dụng dược lý của sâm Triều Tiên (Panax ginseng C. Meyer, Korean ginseng) Nhân sâm đã được sử dụng hơn 2000 năm ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Á như là một vị thuốc với danh xưng là “King of medicines” (vua của các phương thuốc). Hồng sâm Triều Tiên (Korean red ginseng) được công nhận là thương phẩm có phẩm chất tốt nhất của sâm Triều Tiên so với Bạch sâm Triều Tiên (Korean white ginseng) với qui trình chế biến dựa trên ba tiêu chí để đảm bảo hiệu lực và độ an toàn cao: (1) gia tăng các tác dụng dược lý như tác dụng kháng ung thư, (2) chống oxy hoá của Hồng sâm mạnh, giảm thiểu tác dụng phụ hay độc tính, (3) các chế phẩm có thể bảo quản được trong thời gian dài.
Những nghiên cứu về dược lý thực nghiệm của Hồng sâm Triều Tiên đã được tiến hành từ thập niên 60 ở Hàn Quốc. Những nghiên cứu về hoá học đã phân lập từ Hồng sâm Triều Tiên thu được 30 ginsenoside khác nhau, các polysaccharid, protein ổn nhiệt, các hợp chất phenolic, các polyacetylen,… Những đặc điểm đa dạng về hoá thực vật đã góp phần làm phong phú tác dụng dược lý của Hồng sâm Triều Tiên. Mỗi ginsenoside đã được chứng minh có tác dụng hiệp lực và đối kháng với các ginsenoside khác. Mặc dù, Hồng sâm Triều Tiên đã có hơn 2000 năm kinh nghiệm sử dụng nhưng những minh chứng bằng khoa học hiện đại về các tác dụng trị liệu của Hồng sâm Triều Tiên vẫn còn là những bí mật cần khám phá.
8 Y học cổ truyền Phương Đông đã chứng minh Hồng sâm Triều Tiên đóng vai trò quan trọng trong việc dự phòng và điều trị những bệnh lý mãn tính, cần điều trị dài ngày như bệnh tiểu đường, ung thư, bệnh xơ vỡ động mạch, huyết khối, cao lipid máu, cao huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não,…, tác dụng tăng cường thể lực và gia tăng sức đề kháng không đặc hiệu của cơ thể. Y học hiện đại đã chứng minh Hồng sâm Triều Tiên duy trì hệ thần kinh trung ương, hệ nội tiết và hệ miễn dịch. Tuy các tác dụng trị liệu của Hồng sâm Triều Tiên không điển hình và tương đối yếu so với các thuốc đặc trị tây y nhưng ít gây tác dụng phụ khi sử dụng dài ngày, nhất là ở những đối tượng bệnh nhân cao tuổi là ưu điểm của Hồng sâm Triều Tiên. Sơ lược về cây sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.
Nguồn gốc và lịch sử phát triển Cây sâm Ngọc Linh là cây thuốc giấu của đồng bào dân tộc Xê Đăng sống trên vùng núi cao thuộc hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam, thân thảo sống đan xen trong quần thể thực vật đa dạng vùng rừng núi hiểm trở, lạnh và mây mù gần như quanh năm, không có dân cư. Năm 1973, đoàn điều tra dược liệu Ban Dân Y khu 5 do dược sỹ Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang hướng dẫn đã phát hiện được một loài Panax mọc thành quần thể ở độ cao 1800 m tại vùng Đắk Lây, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum và đặt tên là “sâm Đốt trúc” với tên khoa học sơ bộ xác định là Panax articulatus L., họ nhân sâm (Araliaceae). Năm 1974, qua báo cáo của dược sỹ Nguyễn Thới Nhâm về kết quả phân tích sơ bộ thành phần hóa học cây sâm K5 so với cây sâm Triều Tiên và sâm Tam thất. Khu ủy khu 5 đã cho bảo vệ chặt chẽ vùng sâm này và cũng từ đấy sâm K5 được sử dụng để chữa bệnh có hiệu quả cho các thương bệnh binh, cán bộ và nhân dân.
9 Phân loại Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Magnoliopsida Bộ : Apiales Họ : Araliaceae Chi : Panax Loài : Panax vietnamensis Ha et Grushv. Cây sâm Ngọc Linh Trải qua hơn 30 năm, sâm K5 còn gọi là sâm Ngọc Linh hay sâm Việt Nam, một loài sâm đặc hữu của nước ta đã được thế giới biết đến với tên khoa học là Panax vietnamesis Ha et Grushv. So với 3 loài sâm quý nhất thế giới thì sâm Triều Tiên chỉ có 25 saponin với tổng số hàm lượng là 3,52%, sâm Mỹ chỉ có 14 saponin với hàm lượng 3,83%, sâm Trung Quốc có 23 saponin với tổng số hàm lượng là 4,87%. Saponin tritepen là thành phần hóa học quan trọng nhất của sâm, tạo nên các tác dụng chủ yếu của sâm.
Ngoài ra, nó có 7 hợp chất polyacetylen có tính kháng khuẩn và kháng ung thư, 17 acid béo đặc biệt là acid béo không no như: oleic (13,26%), linoleic (40,04%) và linolenic (2,61%), 18 acid amin trong đó có đủ 8 acid amin cần thiết cho cơ thể và các acid amin chống lão hóa tế bào có tỷ lệ rất cao và còn có 20 nguyên tố đa vi lượng [132]. Hình thái thực vật Sâm Ngọc Linh là loài cây thân thảo sống lâu năm, thân rễ có sẹo và các đốt do thân khí sinh rụng hàng năm để lại, cao khoảng 40 - 100 cm. Loài sâm này bắt đầu xuất hiện ở độ cao 1.500 m trở lên so với mực nước biển.000 m, cây mọc tập trung thành quần thể dọc bờ suối, có độ ẩm trên 80%, đất nhiều mùn hữu cơ, dưới tán rừng hỗn giao giữa lá rộng và lá kim. Thân rễ: thân rễ nạc, đường kính 1 - 3,5 cm, chiều dài tuỳ theo số năm sinh trưởng, màu vàng nhạt hay vàng đất, có nhiều đốt, mang những vết sẹo do thân lụi hàng năm để lại, mỗi vết tương đương với 1 năm tuổi.
Thân rễ mang nhiều rễ con 10 và những vết nhăn dọc, mùi thơm nhẹ, vị đắng hơi ngọt. Rễ củ: rễ củ nằm cuối thân rễ, dạng con quay, hình trụ, đôi khi có dạng hình người, màu vàng nhạt, mang nhiều rễ con và có vân ngang. Cây sâm trồng có rễ củ phát triển hơn và thường có 3 dạng: dạng củ cà rốt, dạng con quay và phổ biến nhất là dạng một bó củ.